Hiển thị các bài đăng có nhãn doanh nghiệp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn doanh nghiệp. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 23 tháng 6, 2015

"Thách thức kép" trong cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

(Vay thế chấp) - Theo số liệu thống kê, sau 4 năm (2011 - 2014) cả nước mới cổ phần hóa được 242 doanh nghiệp nhà nước (DNNN), đạt 56% so với kế hoạch đề ra; số còn lại 289 DN, chiếm gần một nửa (44%) số DN phải hoàn thành cổ phần hóa trong năm 2015.

Đây là một áp lực lớn, bởi mục tiêu này đang gặp phải “thách thức kép”: Vừa phải hoàn thành tiến độ và kế hoạch cổ phần hóa, vừa phải đảm bảo chất lượng cổ phần hóa, trong đó nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng cổ phần hóa là tạo ra động lực mới nhờ đổi mới quản trị DN (quản trị DN) và sự đột phá do có sự tham gia của nhân tố nhà đầu tư - cổ đông chiến lược.

Theo phân tích của các chuyên gia, việc cổ phần hóa chậm, chưa đúng với lộ trình, chưa bảo đảm tiến độ, còn nhiều đối tượng DN quy mô lớn chưa cổ phần hóa do nhiều nguyên nhân, nhưng trong đó chủ yếu là tình hình kinh tế vĩ mô không thuận lợi đã ảnh hưởng đến tiến độ cổ phần hóa. Số lượng DN cổ phần hóa được trong 4 năm 2011, 2012, 2013, 2014 từ rất ít đến tăng dần (tương ứng các năm là 12, 13, 74, 143 DN).


Một mặt, kinh tế vĩ mô không thuận lợi, kinh tế suy giảm ảnh hưởng rất lớn đến cầu của thị trường, từ đó ảnh hưởng đến IPO các DN cổ phần hóa. Mặt khác, trong những năm này Chính phủ và các bộ, ngành tập trung nhiều nỗ lực vào điều hành ổn định kinh tế vĩ mô, vì thế cũng ảnh hưởng đến các nỗ lực thực hiện cổ phần hóa và tiến độ cổ phần hóa.

Cho đến nay, cổ phần hóa chủ yếu tiến hành đối với các DNNN quy mô nhỏ để giảm mạnh số lượng DNNN. Số DNNN còn lại chưa cổ phần hóa và sẽ cổ phần hóa tiếp là những DNNN quy mô lớn, chủ yếu là tập đoàn kinh tế và tổng công ty. Việc cổ phần hóa các DNNN quy mô lớn, các tập đoàn kinh tế và tổng công ty khó tiến hành hơn vì có nhiều vấn đề hơn DNNN nhỏ. DN lớn như các tập đoàn kinh tế và tổng công ty buộc phải tái cơ cấu lại trước khi cổ phần hóa, như: Phải sắp xếp lại sản xuất, tái cơ cấu lại ngành nghề kinh doanh, thoái vốn đầu tư ngoài ngành kinh doanh chính, cơ cấu lại tổ chức, bộ máy, cán bộ, lao động..., nên đã ảnh hưởng đến tiến độ, lộ trình cổ phần hóa.

Một lý do nữa không thể bỏ qua là bài toán lợi ích giữa chưa cổ phần hóa và cổ phần hóa, thời điểm tiến hành cổ phần hóa đối với DN và đối với cá nhân của những người đứng đầu, người lãnh đạo, quản lý DN. Đây là một lý do làm chậm quá trình cổ phần hóa. Ngoài ra, việc cổ phần hóa các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước cũng đang phải đối diện với không ít những vấn đề, như: tình trạng DN sau cổ phần hóa vẫn chưa thoát ra khỏi phương thức hoạt động của DNNN cũ, vẫn chưa đột phá mạnh về tư duy, hành động trong quản trị, điều hành, năng lực quản lý, khả năng cạnh tranh, tính công khai, minh bạch, khó tìm được cổ đông chiến lược, cách lựa chọn nhà đầu tư chiến lược, vai trò cổ đông nhà nước bị quá lạm dụng hoặc trong trình trạng chỉ giữ vai trò như người giữ vốn nhà nước.

Mục tiêu cổ phần hóa, ngoài việc đa dạng hoá sở hữu, giảm tính độc tôn của sở hữu nhà nước, là chuyển DNNN thành DN cổ phần với cấu trúc quản trị hiện đại, đồng thời sau cổ phần hóa tiếp tục cải thiện quản trị DN theo hướng hiện đại. Tuy nhiên, trên thực tế quản trị DN tại các DN chuyển từ DNNN thành công ty cổ phần nhìn chung chưa có nhiều chuyển biến, thay đổi rõ rệt. Trong khi, sự phân biệt rạch ròi giữa 2 loại thoái vốn là chưa có. Cụ thể là, chưa xác định rõ tính chất, mục tiêu, thẩm quyền quyết định đối với từng loại thoái vốn. Vẫn còn tình trạng đánh đồng giữa thoái vốn đầu tư ngoài ngành theo chủ trương tái cơ cấu DNNN và thoái vốn để tiếp tục cổ phần hóa DN có vốn nhà nước ở giai đoạn sau cổ phần hóa.

Để giải bài toán trên, các chuyên gia cho rằng, ngoài việc đổi mới nhận thức về cổ phần hoá và tư nhân hoá thì điều quan trọng là không nên chạy theo tiến độ cổ phần hóa bằng mọi giá. Theo kế hoạch đưa ra là 2 năm 2014 - 2015 phải cổ phần hóa 432 DNNN. Năm 2014 đã cổ phần hóa 143 DN, số còn lại của năm 2015 là 289 DN, đây là con số cao hơn rất nhiều so với bình quân năm ở các giai đoạn 2011 - 2015. Trong bối cảnh kinh tế suy thoái và mới dần chuyển sang phục hồi thì kế hoạch cổ phần hóa này là rất tham vọng cả về con số DN cổ phần hóa và tiến độ thực hiện.

Có một số lý do để có thể xem xét lại kế hoạch và tiến độ cổ phần hóa năm 2015: (i) Số lượng DN đưa vào kế hoạch cổ phần hóa năm 2015 cao hơn rất nhiều so với trung bình hàng năm của giai đoạn 2011 - 2014 khi kinh tế suy thoái mạnh và chỉ mới bắt đầu phục hồi chậm. Nhìn từ số liệu DN cổ phần hóa trong 3 năm 2011 - 2013 cho thấy, kinh tế suy giảm sâu đã ảnh hưởng rất lớn đến cầu của nền kinh tế, từ đó có ảnh hưởng đến lượng cổ phần IPO hay bán ra được từ các DN cổ phần hóa. Trong bối cảnh đó, việc cổ phần hóa là không thật có lợi nhìn từ phía cung là DNNN và Nhà nước; (ii) Cổ phần hóa trong bối cảnh tái cơ cấu đòi hỏi tiến hành tái cơ cấu DN trước - một giai đoạn cần thiết trước khi cổ phần hóa. Cần dành thời gian cho tái cơ cấu DN thay vì chạy theo tiến độ, hoàn thành cổ phần hóa ngay; (iii) Điều quan trọng đối với DN cổ phần hóa không phải chỉ là hoàn thành cổ phần hóa, đăng ký DN thành công ty cổ phần, mà chủ yếu ở việc cải thiện quản trị DN, hiện đại hóa DN để tăng sức cạnh tranh. Điều này cũng cần có nhiều thời gian hơn.

Bên cạnh đó, cần thay đổi quan điểm và cách tiếp cận cổ phần hóa trong tái cơ cấu DNNN. Cách tiếp cận cơ cấu lại DNNN và cổ phần hóa là chuyển mạnh sang áp dụng các biện pháp tái cấu trúc có tính thị trường nhưng cũng nên sử dụng quyền lực của chủ sở hữu một cách đúng đắn và minh triết. Đó là, thực hiện các biện pháp tạo lập, kích thích, nuôi dưỡng, phát triển những yếu tố thị trường trong loại bỏ hay tiếp tục duy trì DNNN. Đồng thời, tạo sức ép hành chính đối với cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu không đáp ứng yêu cầu tái cơ cấu, cổ phần hóa.

Đối với các DNNN quy mô lớn như tập đoàn kinh tế, tổng công ty hoạt động trong những ngành, lĩnh vực quan trọng, việc cổ phần hóa cần phải có sự lựa chọn và các bước đi phù hợp với điều kiện của đất nước cũng như định hướng phát triển kinh tế của Đảng. Việc cổ phần hóa không thể thực hiện ồ ạt ngay từ thời điểm cổ phần hóa mà phải được tiến hành theo nhiều giai đoạn phù hợp với kế hoạch và lộ trình giảm dần tỷ lệ vốn nhà nước. Hay nói cách khác, cần có những hướng dẫn cụ thể và các bước triển khai thận trọng khi cổ phần hóa các DNNN quy mô lớn, tổng công ty hoạt động trong những ngành, lĩnh vực quan trọng.

Đồng thời, cần xem xét điều chỉnh lại cách thức thoái vốn đầu tư ngoài ngành hiện nay theo một số nguyên tắc: Nhà nước chỉ nên đưa ra chủ trương thoái vốn đầu tư ngoài ngành và đưa ra một số nguyên tắc chung căn cứ vào đó để DN áp dụng; không nên quy định cụ thể tỷ lệ % thoái vốn, vì như vậy là can thiệp sâu vào DN, trái với nguyên tắc thị trường và thể chế thị trường chúng ta đang xây dựng và hướng tới. Nhà nước chỉ hành xử trên tư cách và với tâm thế của nhà đầu tư, cổ đông nhà nước, thực hiện quyền của nhà đầu tư, cổ đông nhà nước không phải với tư cách cơ quan quản lý nhà nước. Không nên chuyển tải ý chí Nhà nước bằng các quy định có tính quy phạm pháp luật có hiệu lực chung.

Thoái vốn đầu tư ngoài ngành cần căn cứ đặc điểm của từng DN, chủ yếu là hiệu quả đầu tư trong và ngoài ngành; tiềm lực tài chính DN; triển vọng ngành kinh doanh chính; sản phần ngành kinh doanh chính ở giai đoạn nào, nếu ở giai đoạn thoái trào thì cần xem lại chính sách thoái vốn ngoài ngành kinh doanh chính, để chuyển sang đầu tư ngành kinh doanh chính mới triển vọng hơn. Đối với DN đang kinh doanh có hiệu quả ở cả ngành kinh doanh chính và ngoài ngành kinh doanh chính thì quyền quyết định thoái vốn đầu tư ngoài ngành cần trao cho bộ máy quản trị, điều hành của DN căn cứ theo tín hiệu thị trường.

Theo Thông tin Tài chính

Thứ Năm, 18 tháng 6, 2015

Previous Next Không để doanh nghiệp không vay được vốn

(Vay thế chấp) - Đó là khẳng định của ông Nguyễn Hoàng Minh, phó giám đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) TP.HCM, khi trao đổi với Tuổi Trẻ.

Theo ông Minh, qua bốn năm triển khai đến nay, chương trình kết nối giữa ngân hàng và doanh nghiệp (DN) trên địa bàn đã phát huy tác dụng tốt và chưa phát sinh nợ xấu, nợ quá hạn.

Tuy nhiên vẫn còn DN “kêu” chưa tiếp cận được vốn. Do đó, tới đây NHNN chi nhánh TP.HCM sẽ phối hợp với UBND các quận, huyện trên địa bàn để nắm tình hình, số lượng DN có nhu cầu mà chưa được vay, nguyên nhân từ đâu.

Nếu DN đủ điều kiện, NHNN TP.HCM sẽ yêu cầu các NH giải quyết cho vay, đảm bảo sắp tới sẽ không còn tình trạng DN đủ điều kiện nhưng không vay được vốn.

A.H.
Theo: tuổi trẻ


Thứ Hai, 15 tháng 6, 2015

Phát triển thương hiệu doanh nghiệp

(Vay thế chấp) - Trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng, việc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp nước ngoài sẽ diễn ra khốc liệt hơn. Vì vậy, các doanh nghiệp cần đẩy mạnh việc xây dựng chiến lược sản phẩm, phát triển thương hiệu, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.

Xây dựng thương hiệu là một trong những hoạt động quan trọng, đánh giá mức độ thành công và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp ở nước ta vẫn chưa quan tâm đến vấn đề này, nhất là đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo thống kê, 98% doanh nghiệp nhỏ và vừa ở trong nước thiếu chiến lược phát triển thương hiệu. Một số doanh nghiệp đã chú ý đến xây dựng thương hiệu cho mình nhưng hiệu quả chưa cao, vì thiếu năng lực tài chính, trong khi, chưa xác định đúng tầm quan trọng nên chỉ dành lượng kinh phí nhỏ cho hoạt động xây dựng thương hiệu. Doanh nghiệp cũng chưa có tầm nhìn dài hạn mà thường chỉ đầu tư tập trung vào một số thời điểm nhất định.


Trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng hiện nay, các doanh nghiệp trong nước còn phải đối mặt với áp lực cạnh tranh lớn. Bởi tới đây, theo tiến trình giảm thuế mà nước ta cam kết thực hiện khi tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTA), nếu không tận dụng tốt, các doanh nghiệp của nước ta không chỉ mất cơ hội chiếm lĩnh thị trường nước ngoài, mà ngay thị trường nội địa cũng khó có thể giữ vững. Lấy ví dụ đối với mặt hàng thức ăn chăn nuôi, giống, thuốc thú y và sản phẩm đầu ra của nước ta chủ yếu bị khống chế bởi các doanh nghiệp nước ngoài; ngành nông nghiệp với các mặt hàng thịt gà, lợn, bò... lại là ngành lợi thế của Hoa Kỳ hoặc mặt hàng đường là thế mạnh của Australia. Do đó, giảm thuế quan có thể khiến luồng hàng nhập khẩu vào nước ta với giá cả cạnh tranh sẽ gia tăng. Hệ quả tất yếu là thị phần hàng hóa liên quan trong nước sẽ bị ảnh hưởng và cạnh tranh gay gắt.

Ngoài ra, vấn đề sở hữu trí tuệ đối với ngành dược phẩm là rất cao. Bởi các hiệp định đều nâng cao mức độ bảo hộ sáng chế và mức độ bảo hộ dữ liệu thử nghiệm cho dược phẩm và nông hóa phẩm. Điều này được cho là sẽ cản trở lớn đối với các doanh nghiệp dược phẩm trong nước cạnh tranh với các hãng dược phẩm nước ngoài. Do đó, nếu doanh nghiệp không xây dựng được thương hiệu cho riêng mình sẽ khó cạnh tranh.

Vậy giải pháp nào để doanh nghiệp có thể phát triển và bảo hộ thương hiệu trong quá trình hội nhập quốc tế? Các chuyên gia cho rằng, trước hết, doanh nghiệp cần thực hiện ngay việc đăng ký bảo hộ và quảng cáo cho nhãn hiệu. Doanh nghiệp cũng có thể tận dụng các nguyên tắc ưu tiên, nguyên tắc bảo hộ độc lập của Công ước Paris là chỉ bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp trên địa phận quốc gia cấp bằng này. Trường hợp doanh nghiệp đã đăng ký chứng nhận nhãn hiệu tại Cục Sở hữu trí tuệ, thì có thể sử dụng Nghị định thư liên quan Thỏa ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa để bảo vệ quyền lợi và thương hiệu của mình... Doanh nghiệp cũng cần cần liên kết, phối hợp chặt chẽ giữa với các đơn vị khác để khai thác tốt nguồn khách hàng, giảm thiểu mọi chi phí không cần thiết, từ đó, phát triển doanh nghiệp và thương hiệu trên thị trường nước ngoài.

Bên cạnh đó, Nhà nước cần tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận với thông tin về thị trường; cũng như là hỗ trợ doanh nghiệp trong việc nâng cao năng lực xây dựng chiến lược về thương hiệu thông qua các chương trình đào tạo. Cần tăng cường quản lý kiểm soát các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất nhằm bảo đảm chất lượng cho sản phẩm, đặc biệt là đối với sản phẩm nông sản; cũng như, hỗ trợ cho doanh nghiệp tuyên tuyền cho chính thương hiệu của mình trên thị trường quốc tế. Đồng thời, phải có chiến lược huy động nguồn lực xã hội để đầu tư toàn diện về mọi mặt nâng cao tiêu chuẩn cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực; cũng như, nới lỏng hơn khung pháp lý liên quan đến chi phí trong công tác truyền thông, marketing...

Phó cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công thương), Phó tổng thư ký - Ban Thư ký Chương trình Thương hiệu quốc gia Đỗ Kim Lang cho biết, đứng trước những thách thức từ quá trình hội nhập, thời gian tới Chương trình Thương hiệu quốc gia sẽ đẩy mạnh việc xây dựng môi trường thuận lợi cho hoạt động phát triển thương hiệu thông qua việc phối hợp các chương trình và hoạt động tương đồng về mục tiêu và nội dung do các bộ, ngành thực hiện, qua đó tạo lập cơ chế chính sách đồng bộ và sử dụng nguồn lực hiệu quả. Tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng năng lực phát triển thương hiệu thông qua các hoạt động đào tạo, tư vấn và thông tin nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của sản phẩm, phát triển xuất khẩu, mở mang thị trường nội địa làm nền tảng để xây dựng thương hiệu. Tăng cường quảng bá Chương trình và các sản phẩm đạt thương hiệu quốc gia trên các phương tiện truyền thông đại chúng, các sự kiện thương mại quốc tế ở trong nước và nước ngoài, kết hợp tuyên truyền ý thức người Việt Nam sử dụng hàng Việt Nam.

Theo daibieunhandan.vn

Không nên quá lo lắng về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

(Vay thế chấp) - Chúng ta không phải cổ phần hóa bằng mọi giá, nên không cần quá lo lắng vấn đề này. Tuy nhiên cũng phải đề phòng thất thoát tiêu cực trong quá trình cổ phần hóa. Quyết tâm phải làm, nhưng phương án phải quyết liệt, cụ thể.

Đây là ý kiến của Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khi trả lời chất vấn của ĐB Trần Du Lịch (TP. Hồ Chí Minh) trong phiên chất vấn ngày 13/6.

Quyết tâm, nhưng không nên quá lo lắng

ĐB Trần Du Lịch cho biết, tới thời điểm này chúng ta còn 6 tháng 17 ngày là kết thúc kế hoạch 5 năm (2011 - 2015). Trong kế hoạch này, một trong những nhiệm vụ ưu tiên tái cấu trúc là doanh nghiệp nhà nước, tập đoàn, tổng công ty. “Chúng tôi ghi nhận Chính phủ rất nhiều nỗ lực trong thực hiện cổ phần hóa. Nhưng tới thời điểm này chúng ta còn 289 doanh nghiệp Nhà nước toàn là “xương xẩu”, chưa thể cổ phần hóa được. Như vậy liệu chúng ta hoàn thành không? Hậu cổ phần hóa, mục tiêu chúng ta nâng doanh nghiệp lên và sử dụng phần thoái vốn nhà nước như thế nào?”, ĐB nêu câu hỏi.

Trả lờiĐB Trần Du Lịch,Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho rằng, Nghị quyết Trung ương 3, Khóa XI, đã nêu kết luận về tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nướcvà Chính phủ đang chỉ đạo quyết liệt vấn đề này, cơ bản thực hiện đúng mục tiêu.

Phó Thủ tướng phân tích thêm, trong báo cáo của Chính phủ, Thủ tướng cũng có chỉ đạo phấn đấu để cổ phần hóa 289 doanh nghiệp. Nhưng vấn đề này cũng phụ thuộc vào thị trường chứng khoán, vào sự phát triển đi lên của nền kinh tế mới có thể cổ phần hóa được. Cho nên nếu bán cho doanh nghiệp, bán cho SCIC hay cho cán bộ công nhân viên thì dễ, nhưng bán cổ phần đại chúng thành côngthì phải theo thị trường và sự sôi động của thị trường.

“Nhưng chúng tôi đang cố gắng làm hết sức mình để thực hiện chủ trương 289 doanh nghiệp này trong thời gian tới. Chúng ta cũng phải nói rằng 'Không quá lo lắng vấn đề này', chúng ta không phải cổ phần hóa bằng mọi giá. Chúng ta cũng phải đề phòng thất thoát tiêu cực trong quá trình cổ phần hóa. Quyết tâm phải làm, nhưng phương án phải quyết liệt, phải vẫn cụ thể”, Phó Thủ tướng nói.


Tiền thu về từ cổ phần hóa làm gì?

Cũng liên quan tới vấn đề được ĐB Trần Du Lịch chất vấn là "sử dụng phần vốn nhà nước hậu cổ phần hóa thế nào?", Phó Thủ tướng cho biết, theo Nghị quyết Trung ương 3, khóa IX, trước hết là giải quyết chế độ cho công nhân viên là rất quan trọng. Thứ hai là hỗ trợ cho doanh nghiệp khó khăn về tài chính để phục vụ tái cơ cấu. Thứ ba là dùng vào lĩnh vực đầu tư phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội. Ba việc này sẽ được triển khai trong quá trình sử dụng tiền cổ phần hóa một cách đúng mục đích, đúng quy định của Đảng, Nhà nước.

Về tỷ lệ nắm giữ vốn của Nhà nước sau cổ phần hóa, Phó Thủ tướng thẳng thắnchorằng: việc nắm giữ 5% vốn thì Nhà nước không muốn nắm giữ, nhưng một là bán không được, hoặc bán không có lợi, nên Nhà nước phải tham gia.

“Tôi xin nói lại là có thể bán không được hoặc đang rà soát lại. Chúng tôi cam kết đôn đốc bàn giao SCIC để thoái vốn cần thiết. Ý này tôi cho là ý góp phần vào chủ trương rất lớn trong việc cổ phần hóa doanh nghiệp”, Phó Thủ tướng khẳng định lại.

“Bây giờ tôi nói ví dụ như xung quanh việc cổ phần hóa, có đồng chí Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ở đây, 4 ngân hàng thương mại nhà nước lớn có cần cổ phần hóa để tư nhân chi phối không? Nếu tư nhân chi phối chúng ta điều hành chính sách tiền tệ bằng công cụ gì? Cho nên Nhà nước có vai trò rất quan trọng. Nhưng, chúng tôi đồng ý tỷ lệ thấp còn lại như vậy, Nhà nước sẵn sàng bán lô lớn để nhà đầu tư tham gia điều hành doanh nghiệp”, Phó Thủ tướng phân tích thêm.

Theo thoibaotaichinhvietnam.vn