(Vay thế chấp) -
(Tài chính) Chiếm đến 97% số doanh nghiệp (DN) hoạt động trên thị trường, đóng góp hơn 40% GDP và sử dụng tới 51% lao động xã hội, song việc tiếp cận vốn của DN nhỏ và vừa (DNNVV) vẫn nan giải, khiến hoạt động sản xuất - kinh doanh của khối này vẫn chưa đạt hiệu quả.
Theo các chuyên gia, cần có sự đối xử công bằng và gỡ những rào cản về thủ tục pháp lý, yêu cầu về tài sản thế chấp phù hợp với năng lực DNNVV thì mới giúp mở lối tín dụng cho khối này.
Vướng từ thủ tục
Theo ông Andrew Terry - GS. chuyên ngành quy chế kinh doanh thuộc Đại học Sydney (Australia), tại các thị trường mới nổi có đến 45 - 55% DNNVV không tiếp cận được với các khoản vay thế chấp chính thức, đối với các DN siêu nhỏ (hộ gia đình) tỷ lệ này lên đến 65 - 72%. Tuy nhiên, tại Việt Nam, con số này còn đáng lo ngại hơn khi chỉ có 30% DNNVV tiếp cận được vốn vay, còn lại 70% DN phải sử dụng nguồn vốn tự có hoặc vay từ các nguồn khác.
Tiếp cận vốn vay là một trong những rào cản hàng đầu hiện nay mà DNNVV phải đối mặt. Theo ông Cao Sỹ Kiêm - Chủ tịch Hiệp hội DNNVV Việt Nam (VINASME), mặc dù Chính phủ đã triển khai các chính sách, chương trình hỗ trợ vốn cho khối này như bảo lãnh tín dụng, hỗ trợ tín dụng, nhưng trên thực tế chỉ có một số lượng nhỏ DN được thụ hưởng các chính sách này, còn phần lớn gặp khó khăn trong tiếp cận vốn. Điều đáng chú ý là tuy chỉ có một tỷ lệ nhỏ các DNNVV tiếp cận được các nguồn vốn vay từ ngân hàng, song phần nhiều trong số này vẫn phải chịu mức lãi suất cao (từ 15 - 18%).
Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước) cho biết, ngoài các chính sách ưu đãi, hỗ trợ vay vốn nói chung, DNNVV còn được hưởng các chính sách ưu đãi riêng. Theo đó, có khoảng 30% nguồn vốn tín dụng hàng năm chảy vào các DNNVV, song theo đánh giá của các chuyên gia, con số này không "thấm tháp" vào đâu so với nhu cầu phát triển của khối DNNVV.
Việc khó tiếp cận vốn vay, đặc biệt trong giai đoạn khủng hoảng vừa qua càng khiến cho các DNNVV dễ tổn thương hơn, khi số lượng DN giải thể, ngừng hoặc tạm ngưng hoạt động tăng cao. Theo khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), một trong hai nguyên nhân chính khiến cho DN phải ngừng hoạt động là do không tìm được đầu ra sản phẩm và DN không vay được vốn.
Một trong những trở ngại lớn nhất khiến cho DNNVV khó tiếp cận vốn, theo VINASME, là do thủ tục vay, khi có đến 55% DN cho rằng hồ sơ vay vốn phức tạp, yêu cầu quá cao; 50% gặp trở ngại do những yêu cầu về tài sản thế chấp, như thiếu tài sản có giá trị cao để thế chấp, ngân hàng không đa dạng hóa tài sản thế chấp như sử dụng hàng trong kho, các khoản thu…; và có đến 80% DNNVV cho rằng tỷ lệ lãi suất hiện nay chưa phù hợp, điều kiện vay vốn chưa phù hợp với DNNVV. Thực tế này dẫn đến, nhiều DNNVV luôn trong tình trạng thiếu vốn, gây trở ngại lớn cho hoạt động đầu tư sản xuất, kinh doanh, đặc biệt trong giai đoạn khủng hoảng vừa qua, khi DN gặp rất nhiều sức ép về thị trường tiêu thụ, hàng tồn kho tăng cao.
Công bằng với DNNVV
DNNVV có sự phát triển khá nhanh, song ông Kiêm cho rằng do chưa được chuẩn bị một cách đầy đủ về kỹ năng, năng lực và kiến thức kinh doanh, nên việc tiếp cận và sử dụng vốn còn nhiều hạn chế. Còn theo bà Hà Thu Giang - Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, không chỉ tiêu chí xác định DNNVV hiện chưa rõ ràng, thống nhất, gây khó khăn cho tổ chức tín dụng trong thẩm định và áp dụng cơ chế cho vay, mà các chính sách bảo lãnh vốn vay hiện vẫn chưa hiệu quả, khi các thủ tục còn nhiều bất cập, chưa thông thoáng.
Với các tổ chức tín dụng, do chịu áp lực lớn trong trong cân đối nguồn vốn, trong khi việc thẩm định dự án, phương án sản xuất - kinh doanh của DNNVV gặp nhiều khó khăn do quy mô hoạt động nhỏ, sản xuất không ổn định, lại thiếu tài sản thế chấp, nên đây là lý do phổ biến khiến các DN bị từ chối các khoản vay.
Tuy nhiên, ở góc độ khác ông Sergio Arzenri - Giám đốc Trung tâm OECD vì sự phát triển của doanh nhân, DNNVV, lại cho rằng DNNVV hiện đang bị đối xử bất bình đẳng với các DN lớn. Trong khi khối này phải trả thuế gấp 6 lần so với DN lớn, các giao dịch thương mại cũng hiệu quả hơn do tính linh động trong mô hình hoạt động, song phần lớn các ưu đãi, hay cơ chế bảo lãnh tín dụng lại chỉ có các DN lớn được hưởng. Do đó, bên cạnh việc hỗ trợ và nâng cao sức cạnh tranh cho DNNVV để nâng cao hiệu quả sử dụng đồng vốn, ông Sergio cho rằng các chính sách hỗ trợ cần được thực thi và được đo lường hiệu quả tác động, trong đó gỡ nút thắt về tài sản đảm bảo, xử lý các khoản nợ xấu là yêu cầu cần thiết đặt ra hiện nay.
Sự ra đời của Quỹ Bảo lãnh tín dụng đã góp phần tháo gỡ nút thắt về vốn cho DNNVV, song yêu cầu phải có tài sản thế chấp bằng ít nhất 15% giá trị các khoản vay vẫn là thách thức lớn cho DN tiếp cận vốn. Do đó, một trong những vấn đề được đặt lên hàng đầu là thủ tục vay vốn, bởi theo tính toán của Trung tâm OECD, nếu làm giảm thiểu 25% chi phí về thủ tục của các DNNVV, khối này có thể mang về 1% GDP cho mỗi quốc gia.
Việc tạo cơ chế hành chính thuận lợi, phù hợp với năng lực của DNNVV là cần thiết, đặc biệt với các DN có phương án doanh tốt nhưng thiếu vốn để phát triển. Ngoài ra, cần có các cơ chế bảo lãnh một phần tín dụng, đa dạng hóa điều kiện về tài sản thế chấp, mở rộng thêm các kênh huy động vốn…
Theo thoibaokinhdoanh.vn
Thứ Bảy, 13 tháng 6, 2015
Phá vòng luẩn quẩn trong cho vay thế chấp hàng hóa
(Vay thế chấp) -
LUẬT SƯ TRẦN MINH HẢI, GIÁM ĐỐC ĐIỀU HÀNH CÔNG TY LUẬT BASICO
Tháng 11/2012, tại một kho hàng thuộc địa bàn xã An Hồng, huyện An Dương, TP. Hải Phòng phát sinh sự kiện tranh chấp xử lý tài sản bảo đảm hàng hóa giữa 7 ngân hàng. Sự việc bắt nguồn từ việc một doanh nghiệp (DN) chuyên kinh doanh vật liệu xây dựng được 7 ngân hàng cùng tài trợ tín dụng trên cơ sở nhận bảo đảm bằng mặt hàng thép tại kho hàng của DN.
Từ một vụ “cướp hàng”…
Thông thường, khi các ngân hàng tài trợ tín dụng cho DN, thì chỉ chấp nhận cho vay tới 60 - 70% giá trị tài sản bảo đảm và giá trị số lượng hàng hóa dùng để bảo đảm luôn lớn hơn giá trị số dư nợ cho vay. Tuy nhiên, gặp khó khăn của tình hình kinh tế vĩ mô, DN mặc dù có uy tín cao với các ngân hàng, nhưng không ít DN lâm vào tình trạng vi phạm, khi mà có ngân hàng đã phát hiện số lượng hàng hóa trong kho hàng bị thiếu hụt, không bảo đảm đủ cho dư nợ cho vay hoặc bị thế chấp để vay nhiều lần.
Trở lại vụ việc nói trên, ngày 8 và 9/11/2012, một ngân hàng lớn thuộc khối quốc doanh đã bố trí 120 xe tải trọng lớn, với đội ngũ khuân vác hùng hậu ngang nhiên vào vận chuyển khoảng 7.000 tấn hàng trên tổng số lượng lưu kho 10.000 tấn hàng ra khỏi kho hàng của 1 DN tại An Dương, Hải Phòng, trước sự chứng kiến bất lực của các ngân hàng bạn. Sau đó, với số hàng ít ỏi còn lại trong kho, các ngân hàng cổ phần họp bàn và tự hỏi nhau cần phải làm gì.
Trong vụ việc này, các ngân hàng bị “cướp hàng” rất bức xúc khi mà việc nhận thế chấp hàng của ngân hàng mình có lập hợp đồng thế chấp, có đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm Đăng ký Quốc gia về giao dịch bảo đảm để xác lập quyền ưu tiên xử lý tài sản, thậm chí có cả khoanh vùng hàng hóa lại, thuê bảo vệ trông giữ 24/24h.
Nhưng thật khó nói ngân hàng quốc doanh kia “cướp hàng”, khi mà họ cũng xuất trình hợp đồng thế chấp hàng của họ với số lượng hàng thế chấp khoảng 7.000 tấn hàng, cũng có đăng ký giao dịch bảo đảm và khi xử lý, họ cũng có quyết định thu giữ tài sản bảo đảm một cách đàng hoàng. Vấn đề là khác với những loại tài sản bảo đảm như nhà đất, ô tô có giấy tờ đăng ký dễ quản lý, dễ xác định, tài sản bảo đảm ở đây là cùng một mặt hàng thép, mà khi đã trộn lẫn vào để thu giữ, thì thép nào chẳng giống thép nào. Cùng một mặt hàng, quản lý trong cùng một kho hàng, thì quả thật không có ranh giới đây là “hàng anh, hàng tôi”. Một khi đã không xác định được ranh giới, thì những giấy tờ chứng nhận đăng ký giao dịch bảo đảm của các ngân hàng có giá trị như… giấy lộn.
… đến sự dè dặt trong cho vay thế chấp bằng hàng hóa
Năm 2011, xảy ra vụ việc 5 ngân hàng trên địa bàn TP. Cần Thơ cùng tranh chấp một kho hàng rỗng của Công ty An Khang, từ đây, các ngân hàng đã phần nào nhận thức rõ rủi ro trong việc cho vay nhận hàng hóa thế chấp. Đây là một sản phẩm cho vay mà các rủi ro khách quan thường xuyên xảy ra ,như hàng hóa khó xác định rõ ràng quyền sở hữu, có thể bị hỏng, bị hủy, bị mất cắp, bị tháo ruột, bị bán cho nhiều người, bị thế chấp trùng cho nhiều ngân hàng, bị gán nợ, bị chủ nợ khác chiếm giữ trên thực tế… Các rủi ro này dẫn đến khó quản lý và nếu xảy ra, sẽ gây ảnh hưởng xấu đến khả năng trả nợ của khách hàng do đây cũng là nguồn lực kinh doanh của khách vay.
Đến cuối năm 2012, hầu hết các ngân hàng đều sợ và từ chối giải ngân cho những khoản vay thế chấp bằng hàng. Lý do thì ai cũng rõ, một công thức cho vay mới hình thành “TC = TC và CC = CC”, có nghĩa là “Thế chấp” bằng “Tín chấp” còn “Cầm cố” bằng “Chắc chắn”. Nhưng để nhận cầm cố được hàng hóa, thì phải có kho hàng riêng của ngân hàng, trong khi không ngân hàng nào đủ lực để làm được điều này. Cũng không thể bắt khách hàng mang hàng hóa sản xuất từ một nơi về thế chấp ở một nơi xa xôi khác, làm phá vỡ logic phân phối kinh doanh.
Nhưng trước áp lực lợi nhuận của ngân hàng và thực tế trước sự sống của DN và nền kinh tế, từ tháng 2/2013, một số ngân hàng thuộc khối quốc doanh tại miền Nam, sau khi “lên dây cót” tinh thần về việc cứ làm, miễn đừng sai sót, vụ lợi cá nhân, đã bắt đầu có dấu hiệu cho vay trở lại với DN trên cơ sở nhận hàng hóa thế chấp, nhất là những DN chuyên doanh sản xuất hàng nông nghiệp. Khối ngân hàng thương mại cổ phần có sự khó khăn hơn trong lựa chọn này, bởi áp lực bảo toàn đồng vốn cao hơn do thuộc tính sở hữu tư nhân và nếu tiếp tục cho vay thế chấp hàng hóa, họ sẽ phải chấp nhận tình trạng như đi bơi trên sông sâu mà khoác một chiếc phao cứu sinh thủng.
“Mở lối vườn hồng", cách nào?
Thực tế đã phản ánh, các DN còn duy trì được hoạt động sản xuất hàng hóa chính là những điểm sáng trong bối cảnh bức tranh kinh tế Việt Nam hiện tại. Việc tài trợ tín dụng và nhận bảo đảm bằng hàng hóa thế chấp vẫn là điều tất yếu đối với các ngân hàng. Vấn đề là tìm lối thoát phá vòng luẩn quẩn trong cho vay thế chấp hàng hóa.
Tại Hội thảo “Những rủi ro và cơ hội phát triển tín dụng nông nghiệp ở Việt Nam” do IFC và World Bank đồng tổ chức mới đây, một chuyên gia nước ngoài đã nêu lên giải pháp, thiết nghĩ có thể trở thành lối thoát hữu hiệu phù hợp với tình hình của Việt Nam. Ở một số nước có nền kinh tế phát triển, một số hãng kho vận uy tín đứng ra làm trung gian gửi giữ hàng hóa. Khi các DN gửi hàng vào kho, họ sẽ được cấp những chứng chỉ ghi nhận thông tin về số lượng, chất lượng, chủng loại và sở hữu về hàng hóa. Các DN có thể đem các chứng chỉ này thế chấp vay vốn tại các ngân hàng. Với độ uy tín cao của hãng kho vận, ngân hàng sẽ mặc nhiên ghi nhận các thông tin để nhận thế chấp hàng hóa mà không nhất thiết phải thẩm định trực tiếp hàng. Khi cần xử lý tài sản bảo đảm, chỉ với chứng chỉ này, ngân hàng cũng có thể bán được hàng hóa với sự hợp tác của hãng kho vận qua các thủ tục pháp lý hợp lý. Với sự phối hợp tổng thể trên, các mắt xích của nền kinh tế được phối hợp nhịp nhàng, giảm bớt các chi phí không cần thiết và giảm thiểu hầu hết các rủi ro thuộc tính của thế chấp hàng hóa.
Ở Việt Nam, đến nay chưa có một hãng kho vận nào đầu tư đủ chiều sâu về uy tín, công nghệ và điều kiện để các ngân hàng tin cậy hợp tác toàn diện trong lĩnh vực này. Lý do gồm các yếu tố cộng hưởng, công nghệ quản trị kho hàng, vốn đầu tư và hành lang pháp lý. Việt Nam thiếu cả ba yếu tố này. Với hai yếu tố đầu tiên, trước tiềm năng dồi dào của thị trường, Việt Nam hoàn toàn có thể kêu gọi những hãng logistic uy tín trên thế giới đầu tư và mở rộng dịch vụ ở Việt Nam, nhưng trước tiên chúng ta cần hoàn thiện hành lang pháp lý đối với lĩnh vực này.
Các vấn đề về điều kiện hoạt động, giới hạn nghiệp vụ, bảo hiểm trách nhiệm, quy chuẩn hoạt động... áp dụng cho các DN kho vận chuyên doanh lĩnh vực này cần được phân định rạch ròi quyền sở hữu hàng hóa, quy trình phối hợp quản lý hàng hóa thế chấp giữa ngân hàng, bên kho vận, bên thế chấp… bằng quy định pháp luật.
Có hành lang pháp lý này, thì “vườn hồng sẽ mở” cho những DN kho vận triển khai nghiệp vụ kinh doanh quản lý hàng hóa thế chấp tại Việt Nam, tạo nên sự kinh doanh chuyên biệt và qua đó cũng góp phần quản trị tốt các rủi ro của việc nhận hàng hóa thế chấp đối với các ngân hàng.
Đây chỉ là một trong các giải pháp tạo lối ra cho hoạt động cho vay nhận thế chấp hàng hóa của các ngân hàng, nhằm thúc đẩy sự tăng trưởng trở lại của hoạt động sản xuất trong nền kinh tế. Thực tế không thiếu các phương án, mà điều cần là sự thực thi một trong các phương án khả thi.
Theo Đầu tư Chứng khoán
Tháng 11/2012, tại một kho hàng thuộc địa bàn xã An Hồng, huyện An Dương, TP. Hải Phòng phát sinh sự kiện tranh chấp xử lý tài sản bảo đảm hàng hóa giữa 7 ngân hàng. Sự việc bắt nguồn từ việc một doanh nghiệp (DN) chuyên kinh doanh vật liệu xây dựng được 7 ngân hàng cùng tài trợ tín dụng trên cơ sở nhận bảo đảm bằng mặt hàng thép tại kho hàng của DN.
Từ một vụ “cướp hàng”…
Thông thường, khi các ngân hàng tài trợ tín dụng cho DN, thì chỉ chấp nhận cho vay tới 60 - 70% giá trị tài sản bảo đảm và giá trị số lượng hàng hóa dùng để bảo đảm luôn lớn hơn giá trị số dư nợ cho vay. Tuy nhiên, gặp khó khăn của tình hình kinh tế vĩ mô, DN mặc dù có uy tín cao với các ngân hàng, nhưng không ít DN lâm vào tình trạng vi phạm, khi mà có ngân hàng đã phát hiện số lượng hàng hóa trong kho hàng bị thiếu hụt, không bảo đảm đủ cho dư nợ cho vay hoặc bị thế chấp để vay nhiều lần.
Trở lại vụ việc nói trên, ngày 8 và 9/11/2012, một ngân hàng lớn thuộc khối quốc doanh đã bố trí 120 xe tải trọng lớn, với đội ngũ khuân vác hùng hậu ngang nhiên vào vận chuyển khoảng 7.000 tấn hàng trên tổng số lượng lưu kho 10.000 tấn hàng ra khỏi kho hàng của 1 DN tại An Dương, Hải Phòng, trước sự chứng kiến bất lực của các ngân hàng bạn. Sau đó, với số hàng ít ỏi còn lại trong kho, các ngân hàng cổ phần họp bàn và tự hỏi nhau cần phải làm gì.
Trong vụ việc này, các ngân hàng bị “cướp hàng” rất bức xúc khi mà việc nhận thế chấp hàng của ngân hàng mình có lập hợp đồng thế chấp, có đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm Đăng ký Quốc gia về giao dịch bảo đảm để xác lập quyền ưu tiên xử lý tài sản, thậm chí có cả khoanh vùng hàng hóa lại, thuê bảo vệ trông giữ 24/24h.
Nhưng thật khó nói ngân hàng quốc doanh kia “cướp hàng”, khi mà họ cũng xuất trình hợp đồng thế chấp hàng của họ với số lượng hàng thế chấp khoảng 7.000 tấn hàng, cũng có đăng ký giao dịch bảo đảm và khi xử lý, họ cũng có quyết định thu giữ tài sản bảo đảm một cách đàng hoàng. Vấn đề là khác với những loại tài sản bảo đảm như nhà đất, ô tô có giấy tờ đăng ký dễ quản lý, dễ xác định, tài sản bảo đảm ở đây là cùng một mặt hàng thép, mà khi đã trộn lẫn vào để thu giữ, thì thép nào chẳng giống thép nào. Cùng một mặt hàng, quản lý trong cùng một kho hàng, thì quả thật không có ranh giới đây là “hàng anh, hàng tôi”. Một khi đã không xác định được ranh giới, thì những giấy tờ chứng nhận đăng ký giao dịch bảo đảm của các ngân hàng có giá trị như… giấy lộn.
… đến sự dè dặt trong cho vay thế chấp bằng hàng hóa
Năm 2011, xảy ra vụ việc 5 ngân hàng trên địa bàn TP. Cần Thơ cùng tranh chấp một kho hàng rỗng của Công ty An Khang, từ đây, các ngân hàng đã phần nào nhận thức rõ rủi ro trong việc cho vay nhận hàng hóa thế chấp. Đây là một sản phẩm cho vay mà các rủi ro khách quan thường xuyên xảy ra ,như hàng hóa khó xác định rõ ràng quyền sở hữu, có thể bị hỏng, bị hủy, bị mất cắp, bị tháo ruột, bị bán cho nhiều người, bị thế chấp trùng cho nhiều ngân hàng, bị gán nợ, bị chủ nợ khác chiếm giữ trên thực tế… Các rủi ro này dẫn đến khó quản lý và nếu xảy ra, sẽ gây ảnh hưởng xấu đến khả năng trả nợ của khách hàng do đây cũng là nguồn lực kinh doanh của khách vay.
Đến cuối năm 2012, hầu hết các ngân hàng đều sợ và từ chối giải ngân cho những khoản vay thế chấp bằng hàng. Lý do thì ai cũng rõ, một công thức cho vay mới hình thành “TC = TC và CC = CC”, có nghĩa là “Thế chấp” bằng “Tín chấp” còn “Cầm cố” bằng “Chắc chắn”. Nhưng để nhận cầm cố được hàng hóa, thì phải có kho hàng riêng của ngân hàng, trong khi không ngân hàng nào đủ lực để làm được điều này. Cũng không thể bắt khách hàng mang hàng hóa sản xuất từ một nơi về thế chấp ở một nơi xa xôi khác, làm phá vỡ logic phân phối kinh doanh.
Nhưng trước áp lực lợi nhuận của ngân hàng và thực tế trước sự sống của DN và nền kinh tế, từ tháng 2/2013, một số ngân hàng thuộc khối quốc doanh tại miền Nam, sau khi “lên dây cót” tinh thần về việc cứ làm, miễn đừng sai sót, vụ lợi cá nhân, đã bắt đầu có dấu hiệu cho vay trở lại với DN trên cơ sở nhận hàng hóa thế chấp, nhất là những DN chuyên doanh sản xuất hàng nông nghiệp. Khối ngân hàng thương mại cổ phần có sự khó khăn hơn trong lựa chọn này, bởi áp lực bảo toàn đồng vốn cao hơn do thuộc tính sở hữu tư nhân và nếu tiếp tục cho vay thế chấp hàng hóa, họ sẽ phải chấp nhận tình trạng như đi bơi trên sông sâu mà khoác một chiếc phao cứu sinh thủng.
“Mở lối vườn hồng", cách nào?
Thực tế đã phản ánh, các DN còn duy trì được hoạt động sản xuất hàng hóa chính là những điểm sáng trong bối cảnh bức tranh kinh tế Việt Nam hiện tại. Việc tài trợ tín dụng và nhận bảo đảm bằng hàng hóa thế chấp vẫn là điều tất yếu đối với các ngân hàng. Vấn đề là tìm lối thoát phá vòng luẩn quẩn trong cho vay thế chấp hàng hóa.
Tại Hội thảo “Những rủi ro và cơ hội phát triển tín dụng nông nghiệp ở Việt Nam” do IFC và World Bank đồng tổ chức mới đây, một chuyên gia nước ngoài đã nêu lên giải pháp, thiết nghĩ có thể trở thành lối thoát hữu hiệu phù hợp với tình hình của Việt Nam. Ở một số nước có nền kinh tế phát triển, một số hãng kho vận uy tín đứng ra làm trung gian gửi giữ hàng hóa. Khi các DN gửi hàng vào kho, họ sẽ được cấp những chứng chỉ ghi nhận thông tin về số lượng, chất lượng, chủng loại và sở hữu về hàng hóa. Các DN có thể đem các chứng chỉ này thế chấp vay vốn tại các ngân hàng. Với độ uy tín cao của hãng kho vận, ngân hàng sẽ mặc nhiên ghi nhận các thông tin để nhận thế chấp hàng hóa mà không nhất thiết phải thẩm định trực tiếp hàng. Khi cần xử lý tài sản bảo đảm, chỉ với chứng chỉ này, ngân hàng cũng có thể bán được hàng hóa với sự hợp tác của hãng kho vận qua các thủ tục pháp lý hợp lý. Với sự phối hợp tổng thể trên, các mắt xích của nền kinh tế được phối hợp nhịp nhàng, giảm bớt các chi phí không cần thiết và giảm thiểu hầu hết các rủi ro thuộc tính của thế chấp hàng hóa.
Ở Việt Nam, đến nay chưa có một hãng kho vận nào đầu tư đủ chiều sâu về uy tín, công nghệ và điều kiện để các ngân hàng tin cậy hợp tác toàn diện trong lĩnh vực này. Lý do gồm các yếu tố cộng hưởng, công nghệ quản trị kho hàng, vốn đầu tư và hành lang pháp lý. Việt Nam thiếu cả ba yếu tố này. Với hai yếu tố đầu tiên, trước tiềm năng dồi dào của thị trường, Việt Nam hoàn toàn có thể kêu gọi những hãng logistic uy tín trên thế giới đầu tư và mở rộng dịch vụ ở Việt Nam, nhưng trước tiên chúng ta cần hoàn thiện hành lang pháp lý đối với lĩnh vực này.
Các vấn đề về điều kiện hoạt động, giới hạn nghiệp vụ, bảo hiểm trách nhiệm, quy chuẩn hoạt động... áp dụng cho các DN kho vận chuyên doanh lĩnh vực này cần được phân định rạch ròi quyền sở hữu hàng hóa, quy trình phối hợp quản lý hàng hóa thế chấp giữa ngân hàng, bên kho vận, bên thế chấp… bằng quy định pháp luật.
Có hành lang pháp lý này, thì “vườn hồng sẽ mở” cho những DN kho vận triển khai nghiệp vụ kinh doanh quản lý hàng hóa thế chấp tại Việt Nam, tạo nên sự kinh doanh chuyên biệt và qua đó cũng góp phần quản trị tốt các rủi ro của việc nhận hàng hóa thế chấp đối với các ngân hàng.
Đây chỉ là một trong các giải pháp tạo lối ra cho hoạt động cho vay nhận thế chấp hàng hóa của các ngân hàng, nhằm thúc đẩy sự tăng trưởng trở lại của hoạt động sản xuất trong nền kinh tế. Thực tế không thiếu các phương án, mà điều cần là sự thực thi một trong các phương án khả thi.
Theo Đầu tư Chứng khoán
Thế chấp hàng hóa, ngân hàng bại trận vì “khiên thủng”
(Vay thế chấp) -
(Tài chính) Năm 2013, ngành ngân hàng đón nhận những hậu quả nặng nề nhất, tổn thất nhất và liên tiếp nhất từ một sản phẩm cho vay truyền thống, cho vay thế chấp hàng hóa. Vụ cưỡng chế kho hàng của Công ty TNHH Trường Ngân cũng như những lùm xùm quanh việc tranh kho hàng của 7 ngân hàng đã cho doanh nghiệp (DN) này vay vốn là vụ thất thoát tiền bạc lớn đối với ngân hàng trong sản phẩm cho vay hàng hóa cuối cùng khép lại năm 2013, sau hàng loạt vụ mất vốn đến hàng trăm tỷ đồng của ngành ngân hàng khi cho vay thế chấp tại các DN như Thép Âu Mỹ, Công Chính Thái Nguyên…
Rủi ro từ bản chất sản phẩm
Đối với các DN sản xuất, tài sản quan trọng nhất chính là hàng hóa, thành phẩm, bán thành phẩm hoặc nguyên liệu. Khi ngân hàng cho vay các DN sản xuất thì tài sản bảo đảm chủ yếu là hàng hóa trong kho được hình thành từ chính nguồn vốn vay.
Để đáp ứng quy mô vốn lưu động lớn, DN thường đi vay nhiều ngân hàng và từ đó, có nhiều nguồn hàng hóa khác nhau hình thành từ nguồn vốn tín dụng của nhiều ngân hàng khác nhau. DN có quyền sử dụng hàng hóa hình thành từ vốn vay của ngân hàng để làm tài sản bảo đảm. Cũng chính từ đây, một kho hàng có thể có nhiều hàng hóa là tài sản bảo đảm của nhiều ngân hàng khác nhau. Như vậy, một kho hàng thường được sử dụng để thế chấp cho vài ngân hàng là chuyện rất phổ biến, mà các vụ ngân hàng tranh chấp kho hàng của DN xảy ra thời gian qua là minh chứng rõ nhất cho điều này.
Rất nhiều rủi ro ngân hàng đã gặp phải khi cho vay thế chấp kho hàng. Ví dụ, hàng hóa bị thiếu hụt, bị rút ruột, không đảm bảo số lượng ban đầu hay nguy cơ thế chấp trùng, hàng hóa để trong kho bị trùng lẫn. Rõ ràng, đây là sản phẩm cho vay tiềm ẩn quá nhiều rủi ro, nhưng vì những logic kinh doanh, ngân hàng vẫn không thể không cho vay.
Trọng tâm quản lý rủi ro sai lầm
Hậu quả đã phát sinh từ những rủi ro nội tại của sản phẩm, nhưng bên cạnh đó còn có một nguyên nhân trọng yếu là nhận thức sai lầm của các ngân hàng. Một thời gian dài, từ cán bộ đến lãnh đạo ngân hàng đã sai lầm trong việc quyết định đâu là trọng điểm quản lý rủi ro trong quan hệ với DN.
Mọi DN đi vay với tài sản bảo đảm là hàng hóa đều là DN sản xuất. Vậy dữ liệu thực sự về năng lực tài chính của khách hàng có khó xác định không? Xin nhấn mạnh là điều này không nằm ngoài tầm khả năng của ngân hàng. Ví dụ, ngân hàng hoàn toàn có thể xác định lượng hàng tồn kho, nhu cầu hạn mức tín dụng phục vụ cho quy mô thực tại của DN. Một khi cán bộ tín dụng thực hiện nghiêm túc công việc thẩm định khách hàng thì hiện tượng cùng một kho hàng thế chấp nhiều nơi là không thể.
Nhìn lại các DN thời gian qua lâm vào khủng hoảng, phá sản thì hầu như đều có chung đặc điểm là có sự lệch nguồn về cơ cấu vay nợ từ ngân hàng, trong đó rất nhiều DN dùng vốn ngắn hạn đầu tư trung, dài hạn như bất động sản, đầu tư tăng trưởng máy móc thiết bị nhà xưởng của lĩnh vực ngành nghề khác. Ngân hàng không thể nói là không biết việc DN sử dụng vốn sai mục đích, vấn đề là ngân hàng biết nhưng lại để mặc, thậm chí do chính sách chung của cả ngành ngân hàng đã giúp khách hàng đảo nợ mà đảo nợ vừa gây khó khăn cho ngân hàng vừa làm xấu thực trạng các khoản nợ.
Việc ngân hàng dựa vào số liệu ảo, mà lờ đi thực trạng thật có nhiều lý do.
Thứ nhất là do giai đoạn thẩm định, phê duyệt cho vay, ngân hàng chỉ chú trọng đến hóa đơn chứng từ và lời khai của khách hàng, mà không thẩm định thực tế tài sản cũng như hoạt động của DN.
Thứ hai là lỗi ở quy trình. Chính sách quản lý rủi ro chung của ngành ngân hàng thiếu sự minh bạch, dẫn đến khách hàng có thể che giấu thông qua hoạt động đảo nợ, thậm chí có sự giúp sức hoặc yêu cầu bắt buộc từ phía ngân hàng. Nhiều khi DN “xin” ngân hàng được gia hạn nợ hoặc là để ngân hàng thu hồi nợ trước hạn, nhưng vì ngân hàng không muốn làm xấu tình trạng tài chính của mình, bởi gia hạn nợ là thừa nhận một khách hàng “xấu”, đã không chấp nhận mà buộc DN phải đảo nợ.
Thực trạng phổ biến là, ngân hàng chấp nhận tiếp tục cho vay theo khế ước mới với số tiền đúng bằng số tiền nợ đến hạn. Nhưng trước khi được giải ngân, DN phải vay trên thị trường “đen” với lãi suất cắt cổ, trả nợ khế ước trước đó rồi mới được vay tiếp. Như vậy, thực chất, DN không hề được vay thêm mà còn phải chịu áp lực trả lãi trên thị trường “đen”.
Sự che giấu tình hình tín dụng đã làm hỏng cả hệ thống ngân hàng suốt thời gian qua. Thực tế, với việc đảo nợ, DN không được gì mà chỉ mất thêm tiền và thị trường tín dụng “đen” càng phát triển.
Đặt trọng tâm sai, nên chính sách quản lý rủi ro sai. Nếu đặt trọng tâm vào chứng từ thì chỉ có con số ảo, còn đặt trọng tâm vào thực tế thì sẽ có quy trình quản lý rủi ro thực chất. Sự đảm bảo khi cho vay nếu chỉ dựa vào hàng hóa là không ổn, mà phải dựa trên cơ sở sự minh bạch về thông tin thực sự của DN.
Hàng lang pháp lý không hiệu quả
Một yếu tố góp phần tạo nên khủng hoàng thế chấp hàng hóa, đó chính là hành lang pháp lý hỗ trợ cho ngân hàng và DN.
Khi ngân hàng nhận tài sản bảo đảm thì trải qua nhiều thủ tục liên quan như công chứng hợp đồng, xác nhận tính xác thực giao dịch giữa ngân hàng và bên bảo đảm, thể hiện khẳng định tính khách quan, tự nguyện giao kết của một giao dịch và được Nhà nước mặc nhiên công nhận. Thủ tục đăng ký giao dịch đảm bảo còn quan trọng hơn khi xác định đến ngày, giờ, phút, giây thứ tự ưu tiên khi một tài sản được dùng để bảo đảm cho nhiều chủ nợ.
Với những quy định như vậy, ngành ngân hàng và DN yên chí là đang đi trong hệ thống hành lang pháp luật bảo hộ rõ ràng, chuẩn mực và khi xảy ra vấn đề lấy căn cứ, ngưỡng pháp lý để làm căn cứ chứng minh phân định. Nhưng thực tế các vụ tranh chấp hàng hóa trong kho cho thấy các hành lang pháp lý này đều đã phá sản.
Hàng năm, ngân hàng đều phải chi rất nhiều tiền cho hoạt động công chứng, đăng ký giao dịch bảo đảm và gánh nặng này đều đặt lên vai DN. Vậy việc công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm đem lại giá trị gì cho cả ngân hàng và DN?
Giải pháp nào để yên tâm tài trợ vốn cho sản xuất?
Mặc dù còn lúng túng nhưng mỗi ngân hàng đều đưa ra giải pháp để hạn chế rủi ro từ sản phẩm cho vay thế chấp hàng tồn kho luân chuyển. Giải pháp đầu tiên là chuyển từ biện pháp thế chấp sang biện pháp cầm cố, tức là hàng hóa là tài sản bảo đảm được quản lý ngay tại kho của ngân hàng, hoặc kho mà ngân hàng đứng ra thuê.
Bên cạnh đó, ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng trong việc lựa chọn quan hệ với ngân hàng khác. Các DN nhìn chung sẽ có quan hệ mật thiết với một ngân hàng nào đó và ngân hàng này hoàn toàn có thể yêu cầu khách hàng lựa chọn ngân hàng tiếp theo để đặt quan hệ tín dụng, qua đó, hình thành nhóm ngân hàng, để sau này có sự phối hợp, liên kết khi xử lý tài sản bảo đảm.
Ngân hàng cũng cần yêu cầu DN hợp tác, phân loại hàng hóa theo từng thể loại, có hàng tách theo lô (nếu có thể) và xem xét lại chính sách kho vận để đảm bảo an toàn tuyệt đối. Với nguyên liệu, bán thành phẩm không có sự lựa chọn nào khác là phải để trong kho, xưởng, do đó, chính sách quản trị rủi ro nên coi hàng hóa là tín chấp, để từ đó bám sát mọi tình hình hoạt động DN.
Không chỉ thế, hệ thống pháp luật cần trao cho ngân hàng quyền sở hữu tạm thời trong thời gian thế chấp. Có như vậy mới dễ dàng xác định tình trạng tài sản bảo đảm, thay vì thứ tự ưu tiên của đăng ký giao dịch bảo đảm. Kết hợp với những giải pháp nêu trên, trong đó, có việc yêu cầu DN lựa chọn nhóm ngân hàng tin cậy để quan hệ tín dụng, khi đó, ngân hàng đầu tiên nhận tài sản bảo đảm có quyền sở hữu và ngân hàng thứ hai, thứ ba mặc nhiên vô hiệu nếu như không được ngân hàng thứ nhất chấp nhận, tương tự như cơ chế đối với việc thế chấp bất động sản.
Theo tinnhanhchungkhoan.vn
Rủi ro từ bản chất sản phẩm
Đối với các DN sản xuất, tài sản quan trọng nhất chính là hàng hóa, thành phẩm, bán thành phẩm hoặc nguyên liệu. Khi ngân hàng cho vay các DN sản xuất thì tài sản bảo đảm chủ yếu là hàng hóa trong kho được hình thành từ chính nguồn vốn vay.
Để đáp ứng quy mô vốn lưu động lớn, DN thường đi vay nhiều ngân hàng và từ đó, có nhiều nguồn hàng hóa khác nhau hình thành từ nguồn vốn tín dụng của nhiều ngân hàng khác nhau. DN có quyền sử dụng hàng hóa hình thành từ vốn vay của ngân hàng để làm tài sản bảo đảm. Cũng chính từ đây, một kho hàng có thể có nhiều hàng hóa là tài sản bảo đảm của nhiều ngân hàng khác nhau. Như vậy, một kho hàng thường được sử dụng để thế chấp cho vài ngân hàng là chuyện rất phổ biến, mà các vụ ngân hàng tranh chấp kho hàng của DN xảy ra thời gian qua là minh chứng rõ nhất cho điều này.
Rất nhiều rủi ro ngân hàng đã gặp phải khi cho vay thế chấp kho hàng. Ví dụ, hàng hóa bị thiếu hụt, bị rút ruột, không đảm bảo số lượng ban đầu hay nguy cơ thế chấp trùng, hàng hóa để trong kho bị trùng lẫn. Rõ ràng, đây là sản phẩm cho vay tiềm ẩn quá nhiều rủi ro, nhưng vì những logic kinh doanh, ngân hàng vẫn không thể không cho vay.
Trọng tâm quản lý rủi ro sai lầm
Hậu quả đã phát sinh từ những rủi ro nội tại của sản phẩm, nhưng bên cạnh đó còn có một nguyên nhân trọng yếu là nhận thức sai lầm của các ngân hàng. Một thời gian dài, từ cán bộ đến lãnh đạo ngân hàng đã sai lầm trong việc quyết định đâu là trọng điểm quản lý rủi ro trong quan hệ với DN.
Mọi DN đi vay với tài sản bảo đảm là hàng hóa đều là DN sản xuất. Vậy dữ liệu thực sự về năng lực tài chính của khách hàng có khó xác định không? Xin nhấn mạnh là điều này không nằm ngoài tầm khả năng của ngân hàng. Ví dụ, ngân hàng hoàn toàn có thể xác định lượng hàng tồn kho, nhu cầu hạn mức tín dụng phục vụ cho quy mô thực tại của DN. Một khi cán bộ tín dụng thực hiện nghiêm túc công việc thẩm định khách hàng thì hiện tượng cùng một kho hàng thế chấp nhiều nơi là không thể.
Nhìn lại các DN thời gian qua lâm vào khủng hoảng, phá sản thì hầu như đều có chung đặc điểm là có sự lệch nguồn về cơ cấu vay nợ từ ngân hàng, trong đó rất nhiều DN dùng vốn ngắn hạn đầu tư trung, dài hạn như bất động sản, đầu tư tăng trưởng máy móc thiết bị nhà xưởng của lĩnh vực ngành nghề khác. Ngân hàng không thể nói là không biết việc DN sử dụng vốn sai mục đích, vấn đề là ngân hàng biết nhưng lại để mặc, thậm chí do chính sách chung của cả ngành ngân hàng đã giúp khách hàng đảo nợ mà đảo nợ vừa gây khó khăn cho ngân hàng vừa làm xấu thực trạng các khoản nợ.
Việc ngân hàng dựa vào số liệu ảo, mà lờ đi thực trạng thật có nhiều lý do.
Thứ nhất là do giai đoạn thẩm định, phê duyệt cho vay, ngân hàng chỉ chú trọng đến hóa đơn chứng từ và lời khai của khách hàng, mà không thẩm định thực tế tài sản cũng như hoạt động của DN.
Thứ hai là lỗi ở quy trình. Chính sách quản lý rủi ro chung của ngành ngân hàng thiếu sự minh bạch, dẫn đến khách hàng có thể che giấu thông qua hoạt động đảo nợ, thậm chí có sự giúp sức hoặc yêu cầu bắt buộc từ phía ngân hàng. Nhiều khi DN “xin” ngân hàng được gia hạn nợ hoặc là để ngân hàng thu hồi nợ trước hạn, nhưng vì ngân hàng không muốn làm xấu tình trạng tài chính của mình, bởi gia hạn nợ là thừa nhận một khách hàng “xấu”, đã không chấp nhận mà buộc DN phải đảo nợ.
Thực trạng phổ biến là, ngân hàng chấp nhận tiếp tục cho vay theo khế ước mới với số tiền đúng bằng số tiền nợ đến hạn. Nhưng trước khi được giải ngân, DN phải vay trên thị trường “đen” với lãi suất cắt cổ, trả nợ khế ước trước đó rồi mới được vay tiếp. Như vậy, thực chất, DN không hề được vay thêm mà còn phải chịu áp lực trả lãi trên thị trường “đen”.
Sự che giấu tình hình tín dụng đã làm hỏng cả hệ thống ngân hàng suốt thời gian qua. Thực tế, với việc đảo nợ, DN không được gì mà chỉ mất thêm tiền và thị trường tín dụng “đen” càng phát triển.
Đặt trọng tâm sai, nên chính sách quản lý rủi ro sai. Nếu đặt trọng tâm vào chứng từ thì chỉ có con số ảo, còn đặt trọng tâm vào thực tế thì sẽ có quy trình quản lý rủi ro thực chất. Sự đảm bảo khi cho vay nếu chỉ dựa vào hàng hóa là không ổn, mà phải dựa trên cơ sở sự minh bạch về thông tin thực sự của DN.
Hàng lang pháp lý không hiệu quả
Một yếu tố góp phần tạo nên khủng hoàng thế chấp hàng hóa, đó chính là hành lang pháp lý hỗ trợ cho ngân hàng và DN.
Khi ngân hàng nhận tài sản bảo đảm thì trải qua nhiều thủ tục liên quan như công chứng hợp đồng, xác nhận tính xác thực giao dịch giữa ngân hàng và bên bảo đảm, thể hiện khẳng định tính khách quan, tự nguyện giao kết của một giao dịch và được Nhà nước mặc nhiên công nhận. Thủ tục đăng ký giao dịch đảm bảo còn quan trọng hơn khi xác định đến ngày, giờ, phút, giây thứ tự ưu tiên khi một tài sản được dùng để bảo đảm cho nhiều chủ nợ.
Với những quy định như vậy, ngành ngân hàng và DN yên chí là đang đi trong hệ thống hành lang pháp luật bảo hộ rõ ràng, chuẩn mực và khi xảy ra vấn đề lấy căn cứ, ngưỡng pháp lý để làm căn cứ chứng minh phân định. Nhưng thực tế các vụ tranh chấp hàng hóa trong kho cho thấy các hành lang pháp lý này đều đã phá sản.
Hàng năm, ngân hàng đều phải chi rất nhiều tiền cho hoạt động công chứng, đăng ký giao dịch bảo đảm và gánh nặng này đều đặt lên vai DN. Vậy việc công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm đem lại giá trị gì cho cả ngân hàng và DN?
Giải pháp nào để yên tâm tài trợ vốn cho sản xuất?
Mặc dù còn lúng túng nhưng mỗi ngân hàng đều đưa ra giải pháp để hạn chế rủi ro từ sản phẩm cho vay thế chấp hàng tồn kho luân chuyển. Giải pháp đầu tiên là chuyển từ biện pháp thế chấp sang biện pháp cầm cố, tức là hàng hóa là tài sản bảo đảm được quản lý ngay tại kho của ngân hàng, hoặc kho mà ngân hàng đứng ra thuê.
Bên cạnh đó, ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng trong việc lựa chọn quan hệ với ngân hàng khác. Các DN nhìn chung sẽ có quan hệ mật thiết với một ngân hàng nào đó và ngân hàng này hoàn toàn có thể yêu cầu khách hàng lựa chọn ngân hàng tiếp theo để đặt quan hệ tín dụng, qua đó, hình thành nhóm ngân hàng, để sau này có sự phối hợp, liên kết khi xử lý tài sản bảo đảm.
Ngân hàng cũng cần yêu cầu DN hợp tác, phân loại hàng hóa theo từng thể loại, có hàng tách theo lô (nếu có thể) và xem xét lại chính sách kho vận để đảm bảo an toàn tuyệt đối. Với nguyên liệu, bán thành phẩm không có sự lựa chọn nào khác là phải để trong kho, xưởng, do đó, chính sách quản trị rủi ro nên coi hàng hóa là tín chấp, để từ đó bám sát mọi tình hình hoạt động DN.
Không chỉ thế, hệ thống pháp luật cần trao cho ngân hàng quyền sở hữu tạm thời trong thời gian thế chấp. Có như vậy mới dễ dàng xác định tình trạng tài sản bảo đảm, thay vì thứ tự ưu tiên của đăng ký giao dịch bảo đảm. Kết hợp với những giải pháp nêu trên, trong đó, có việc yêu cầu DN lựa chọn nhóm ngân hàng tin cậy để quan hệ tín dụng, khi đó, ngân hàng đầu tiên nhận tài sản bảo đảm có quyền sở hữu và ngân hàng thứ hai, thứ ba mặc nhiên vô hiệu nếu như không được ngân hàng thứ nhất chấp nhận, tương tự như cơ chế đối với việc thế chấp bất động sản.
Theo tinnhanhchungkhoan.vn
Đào tạo về cho vay thế chấp là tài sản trí tuệ
(Vay thế chấp) -
(Taichinh) - Cho vay vốn với tài sản đảm bảo (TSĐB) là tài sản sở hữu trí tuệ đã được triển khai ở nhiều quốc gia trên thế giới từ lâu. Tuy nhiên tại Việt Nam, đây là hình thức khá mới và chưa phổ biến.
Nhằm cung cấp các kiến thức và kinh nghiệm về tài trợ vốn có bảo đảm bằng tài sản trí tuệ, từ đó giúp các NHTM tự tin hơn để triển khai và phát triển tài trợ vốn có bảo đảm bằng tài sản trí tuệ ở Việt Nam, góp phần tăng trưởng tín dụng và tạo cơ hội tiếp cận vốn cho các DNNVV, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) phối hợp với Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) - thành viên của Nhóm Ngân hàng Thế giới trong 2 ngày 4-5/5 đã tổ chức khóa đào tạo quốc tế về chủ đề này.
Chia sẻ tại khóa học, bà Trần Thị Hồng Hạnh, Tổng thư ký VNBA cho biết, các loại TSĐB cho khoản vay hiện nay thường là bất động sản nhưng trong bối cảnh thị trường bất động sản vẫn đang khó khăn và nhiều khuôn khổ pháp lý cũng đang gây khó khăn cho các ngân hàng trong việc thu hồi nợ, gây ra không ít rủi ro cho các ngân hàng.
Trong bối cảnh đó, để giảm rủi ro, tài trợ vốn có bảo đảm bằng động sản và tài sản trí tuệ được xem là giải pháp hiệu quả đối với các NHTM, qua đó tạo động lực để thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN, đặc biệt là các DNNVV.
Theo bà Xuan-Thao Nguyen, Giáo sư Luật, chuyên gia về giao dịch bảo đảm, Trường Đại học Luật Mc Kinney và Trường Tổng hợp Indiana (Mỹ), tài trợ vốn có bảo đảm là tài sản sở hữu trí tuệ đã được các ngân hàng ở Mỹ triển khai từ cách đây khoảng 2 thế kỷ và đang đem lại nhiều thành công.
Do đó tại Việt Nam, cho vay theo hình thức này cũng hoàn toàn có thể thành công nếu các ngân hàng thực sự bắt tay vào triển khai trong khi các DN thực sự hiểu được các tài sản trí tuệ của mình, đồng thời hệ thống khuân khổ pháp luật liên quan tiếp tục được hoàn thiện.
Đặc biệt, chuyên gia này cho rằng, do có lợi thế là nước đi sau nên các NHTM Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia đã triển khai để từ đó áp dụng thành công vào thực tế cho vay tại ngân hàng mình.
Cũng trong hai ngày đào tạo, các thành viên tham gia đã được nghe các chuyên gia trình bày về kinh nghiệm tài trợ vốn có bảo đảm bằng tài sản trí tuệ của Ngân hàng Silicon Valley Bank; các kinh nghiệm tiến hành định giá tài sản trí tuệ độc lập; khung pháp lý cho hoạt động tài trợ vốn có bảo đảm bằng tài sản trí tuệ ở Việt Nam hiện nay và các khuyến nghị về phát triển lĩnh vực vốn có bảo đảm bằng tài sản trí tuệ ở thị trường Việt Nam trong thời gian tới.
Theo thoibaonganhang.vn
Nhằm cung cấp các kiến thức và kinh nghiệm về tài trợ vốn có bảo đảm bằng tài sản trí tuệ, từ đó giúp các NHTM tự tin hơn để triển khai và phát triển tài trợ vốn có bảo đảm bằng tài sản trí tuệ ở Việt Nam, góp phần tăng trưởng tín dụng và tạo cơ hội tiếp cận vốn cho các DNNVV, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) phối hợp với Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) - thành viên của Nhóm Ngân hàng Thế giới trong 2 ngày 4-5/5 đã tổ chức khóa đào tạo quốc tế về chủ đề này.
Chia sẻ tại khóa học, bà Trần Thị Hồng Hạnh, Tổng thư ký VNBA cho biết, các loại TSĐB cho khoản vay hiện nay thường là bất động sản nhưng trong bối cảnh thị trường bất động sản vẫn đang khó khăn và nhiều khuôn khổ pháp lý cũng đang gây khó khăn cho các ngân hàng trong việc thu hồi nợ, gây ra không ít rủi ro cho các ngân hàng.
Trong bối cảnh đó, để giảm rủi ro, tài trợ vốn có bảo đảm bằng động sản và tài sản trí tuệ được xem là giải pháp hiệu quả đối với các NHTM, qua đó tạo động lực để thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN, đặc biệt là các DNNVV.
Theo bà Xuan-Thao Nguyen, Giáo sư Luật, chuyên gia về giao dịch bảo đảm, Trường Đại học Luật Mc Kinney và Trường Tổng hợp Indiana (Mỹ), tài trợ vốn có bảo đảm là tài sản sở hữu trí tuệ đã được các ngân hàng ở Mỹ triển khai từ cách đây khoảng 2 thế kỷ và đang đem lại nhiều thành công.
Do đó tại Việt Nam, cho vay theo hình thức này cũng hoàn toàn có thể thành công nếu các ngân hàng thực sự bắt tay vào triển khai trong khi các DN thực sự hiểu được các tài sản trí tuệ của mình, đồng thời hệ thống khuân khổ pháp luật liên quan tiếp tục được hoàn thiện.
Đặc biệt, chuyên gia này cho rằng, do có lợi thế là nước đi sau nên các NHTM Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia đã triển khai để từ đó áp dụng thành công vào thực tế cho vay tại ngân hàng mình.
Cũng trong hai ngày đào tạo, các thành viên tham gia đã được nghe các chuyên gia trình bày về kinh nghiệm tài trợ vốn có bảo đảm bằng tài sản trí tuệ của Ngân hàng Silicon Valley Bank; các kinh nghiệm tiến hành định giá tài sản trí tuệ độc lập; khung pháp lý cho hoạt động tài trợ vốn có bảo đảm bằng tài sản trí tuệ ở Việt Nam hiện nay và các khuyến nghị về phát triển lĩnh vực vốn có bảo đảm bằng tài sản trí tuệ ở thị trường Việt Nam trong thời gian tới.
Theo thoibaonganhang.vn
Thứ Năm, 4 tháng 6, 2015
Thế chấp nhà chưa có sổ hồng
(Vay thế chấp) -
Hỏi: - Tôi mua nhà chung cư, có hợp đồng mua bán nhưng chưa làm được sổ hồng. Nay, tôi cần vốn làm ăn, muốn vay thế chấp nhà cho ngân hàng để vay vốn có được không?
Trả lời: - Khoản 1, Điều 322 Bộ luật Dân sự quy định: Các quyền tài sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm bao gồm quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng, quyền đòi nợ, quyền được nhận số tiền bảo hiểm đối với vật bảo đảm, quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp, quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng và các quyền tài sản khác thuộc sở hữu của bên bảo đảm đều được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.
Do nhà của bà chưa có sổ hồng nên bà không thể thế chấp nhà để vay vốn, mà chỉ có thể thế chấp hợp đồng mua bán nhà để vay vốn. Bà cần liên hệ với Trung tâm Đăng ký giao dịch tài sản của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm tại TPHCM để được xem xét, hướng dẫn cụ thể.
Luật gia NGUYỄN VĂN KHÔI
Theo: saigondautu.com.vn
Nguyễn Thị Ly Kha (quận Bình Thạnh, TPHCM)
Trả lời: - Khoản 1, Điều 322 Bộ luật Dân sự quy định: Các quyền tài sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm bao gồm quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng, quyền đòi nợ, quyền được nhận số tiền bảo hiểm đối với vật bảo đảm, quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp, quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng và các quyền tài sản khác thuộc sở hữu của bên bảo đảm đều được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.
Do nhà của bà chưa có sổ hồng nên bà không thể thế chấp nhà để vay vốn, mà chỉ có thể thế chấp hợp đồng mua bán nhà để vay vốn. Bà cần liên hệ với Trung tâm Đăng ký giao dịch tài sản của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm tại TPHCM để được xem xét, hướng dẫn cụ thể.
Luật gia NGUYỄN VĂN KHÔI
Theo: saigondautu.com.vn
Thụy Sĩ cảnh báo rủi ro cho vay thế chấp
(Vay thế chấp) -
Theo phóng viên TTXVN tại Thụy Sĩ, Phó thống đốc Ngân hàng trung ương Thụy Sĩ (SNB) Jean-Pierre Danthine ngày 11-8 bày tỏ những lo ngại về việc tiếp cận dễ dàng với các hoạt động thế chấp có thể dẫn đến khả năng các ngân hàng thiếu cẩn trọng trong việc xem xét các điều kiện cấp các khoản cho vay này.
Theo ông Danthine, khoảng 40% các khoản thế chấp mới được phê duyệt là không đảm bảo quy tắc thận trọng. Điều này cũng có nghĩa là nhiều trong số những người được vay thế chấp không thể xử lý tình huống khi lãi suất cao hơn.
Để các ngân hàng có thể ứng phó với nguy cơ nợ xấu khi lãi suất tăng, SNB hồi đầu năm đã buộc các ngân hàng phải nâng tỷ lệ vốn dự phòng.
Theo ông Danthine, vẫn còn quá sớm để đánh giá tác dụng của quy định này có đủ để ngăn chặn rủi ro đối với các khoản vay thế chấp, song điều chắc chắn là cần can thiệp sớm và từ từ hơn là can thiệp muộn và cứng nhắc.
Ông cũng yêu cầu các ngân hàng không được đánh giá thấp những rủi ro của các khoản cho vay thế chấp.
Mới đây, ngân hàng UBS lớn nhất Thụy Sĩ cho biết chỉ số bong bóng bất động sản Thụy Sĩ tiếp tục tăng 1,2 điểm trong quý II-2013.
Theo chỉ số của UBS, cứ trên 1 điểm thị trường bất động sản bị coi là rủi ro và trên hai điểm là biểu hiện bong bóng. Nếu xu hướng này tiếp tục, Thụy Sĩ sẽ chạm đến ngưỡng “bong bóng” trên thị trường bất động sản vào cuối năm 2014.
Điều này gợi nhớ lại thời gian cách đây 25 năm khi bong bóng bất động sản của Thụy Sĩ nổ tung, khiến các công ty địa ốc thua lỗ 50 tỷ franc (54 tỷ USD) và đẩy một loại ngân hàng vào cảnh phá sản.
(TTXVN)
Theo ông Danthine, khoảng 40% các khoản thế chấp mới được phê duyệt là không đảm bảo quy tắc thận trọng. Điều này cũng có nghĩa là nhiều trong số những người được vay thế chấp không thể xử lý tình huống khi lãi suất cao hơn.
Để các ngân hàng có thể ứng phó với nguy cơ nợ xấu khi lãi suất tăng, SNB hồi đầu năm đã buộc các ngân hàng phải nâng tỷ lệ vốn dự phòng.
Theo ông Danthine, vẫn còn quá sớm để đánh giá tác dụng của quy định này có đủ để ngăn chặn rủi ro đối với các khoản vay thế chấp, song điều chắc chắn là cần can thiệp sớm và từ từ hơn là can thiệp muộn và cứng nhắc.
Ông cũng yêu cầu các ngân hàng không được đánh giá thấp những rủi ro của các khoản cho vay thế chấp.
Mới đây, ngân hàng UBS lớn nhất Thụy Sĩ cho biết chỉ số bong bóng bất động sản Thụy Sĩ tiếp tục tăng 1,2 điểm trong quý II-2013.
Theo chỉ số của UBS, cứ trên 1 điểm thị trường bất động sản bị coi là rủi ro và trên hai điểm là biểu hiện bong bóng. Nếu xu hướng này tiếp tục, Thụy Sĩ sẽ chạm đến ngưỡng “bong bóng” trên thị trường bất động sản vào cuối năm 2014.
Điều này gợi nhớ lại thời gian cách đây 25 năm khi bong bóng bất động sản của Thụy Sĩ nổ tung, khiến các công ty địa ốc thua lỗ 50 tỷ franc (54 tỷ USD) và đẩy một loại ngân hàng vào cảnh phá sản.
(TTXVN)
Thận trọng cho vay thế chấp hàng hóa
(Vay thế chấp) -
Cho vay cầm cố thế chấp hàng hóa đã trở thành một vấn đề nóng, khi năm vừa qua nhiều doanh nghiệp (DN) cầm cố hàng hóa tại nhiều NH để vay vốn dẫn đến tranh chấp giữa các NH, nên các NHTM đang thận trọng hơn.
Năm 2013, nhiều vụ vỡ nợ tại các DN vay cầm cố, thế chấp hàng hóa cho NH như một hồi chuông báo động đối với các NH khi cho vay hình thức này. Đơn cử như CTCP Inox Việt Mỹ (Hà Nội) dùng toàn bộ hàng hóa là inox thế chấp để vay hơn 200 tỷ đồng của các NH.
Khi công ty này không có khả năng trả nợ, các NH đến đòi nợ mới biết có 6 NH đã nhận thế chấp cùng một kho hàng. Hay vụ việc nổi cộm nhất là Công ty TNHH Trường Ngân thế chấp kho hàng tại Bình Dương để vay 600 tỷ đồng từ 7 NH trong khi giá trị hàng hóa trong kho chỉ có 100 tỷ đồng, khiến các NH phải tranh nhau quyền kiểm soát kho cà phê của DN này.
Theo ông Cao Sỹ Kiêm, nguyên Thống đốc NHNN, việc thế chấp hàng hóa vay vốn rất phổ biến trên thế giới. Tuy nhiên, để được cấp vốn vay, DN phải đáp ứng nhiều tiêu chí. Thứ nhất, khả năng minh bạch của kho hàng như thế nào.
Thứ hai, DN phải cam kết chịu trách nhiệm về sự chính xác và đầy đủ đối với số lượng hàng hóa tại kho hàng. Thứ ba, NH phải quản lý chặt chẽ, kiểm soát được số lượng hàng hóa thế chấp vay vốn, hiểu được hàng hóa, quá trình xuất kho nhập kho cũng như chất lượng hàng hóa như thế nào để xác định nếu DN thua lỗ, lượng hàng hóa trong kho có đảm bảo được nợ vay hay không.
Chỉ khi nào DN đáp ứng được những yêu cầu này, NH mới tiến hành giải ngân. Còn ở nước ta, sở dĩ xảy ra tình trạng DN thế chấp một kho hàng tại nhiều NH vì các NH quản lý lỏng lẻo trong thủ tục cho vay, kiểm tra tài sản thế chấp, chất lượng tài sản thế chấp và DN không minh bạch thông tin của mình.
Điều này vô hình chung tạo điều kiện dễ thông đồng giữa cán bộ NH và DN, dẫn đến có những khoản cho vay thế chấp hàng hóa không đảm bảo tiêu chuẩn xảy ra. Đây cũng là cơ sở để làm tăng nợ xấu, nợ khó đòi.
Ông Nguyễn Đình Tùng, Tổng giám đốc OCB, cũng cho rằng các NH vướng phải tình trạng trên bởi sự thiếu chặt chẽ trong các khâu lựa chọn khách hàng cũng như biện pháp quản lý lỏng lẻo.
Tuy nhiên, ông Tùng cho rằng không nên vì vậy mà NH hạn chế cho vay thế chấp hàng hóa đối với DN. Bởi nếu không cho vay hình thức này, sẽ có đến 70% tín dụng bị nghẽn, hoạt động sản xuất kinh doanh không phát triển được.
Vì vậy NH cần phải sáng suốt, có biện pháp quản lý hàng hóa tốt, đảm bảo giá trị hàng hóa, có cam kết pháp lý ràng buộc, có nơi gửi gắm hàng hóa an toàn. Lâu nay nhiều NH cho khách hàng để tại kho của họ, đây là một biện pháp tương đối lỏng lẻo, NH nên đề nghị DN gửi ở một kho thứ ba.
ĐỖ LINH
Theo: saigondautu.com.vn
Năm 2013, nhiều vụ vỡ nợ tại các DN vay cầm cố, thế chấp hàng hóa cho NH như một hồi chuông báo động đối với các NH khi cho vay hình thức này. Đơn cử như CTCP Inox Việt Mỹ (Hà Nội) dùng toàn bộ hàng hóa là inox thế chấp để vay hơn 200 tỷ đồng của các NH.
Khi công ty này không có khả năng trả nợ, các NH đến đòi nợ mới biết có 6 NH đã nhận thế chấp cùng một kho hàng. Hay vụ việc nổi cộm nhất là Công ty TNHH Trường Ngân thế chấp kho hàng tại Bình Dương để vay 600 tỷ đồng từ 7 NH trong khi giá trị hàng hóa trong kho chỉ có 100 tỷ đồng, khiến các NH phải tranh nhau quyền kiểm soát kho cà phê của DN này.
Theo ông Cao Sỹ Kiêm, nguyên Thống đốc NHNN, việc thế chấp hàng hóa vay vốn rất phổ biến trên thế giới. Tuy nhiên, để được cấp vốn vay, DN phải đáp ứng nhiều tiêu chí. Thứ nhất, khả năng minh bạch của kho hàng như thế nào.
Thứ hai, DN phải cam kết chịu trách nhiệm về sự chính xác và đầy đủ đối với số lượng hàng hóa tại kho hàng. Thứ ba, NH phải quản lý chặt chẽ, kiểm soát được số lượng hàng hóa thế chấp vay vốn, hiểu được hàng hóa, quá trình xuất kho nhập kho cũng như chất lượng hàng hóa như thế nào để xác định nếu DN thua lỗ, lượng hàng hóa trong kho có đảm bảo được nợ vay hay không.
Chỉ khi nào DN đáp ứng được những yêu cầu này, NH mới tiến hành giải ngân. Còn ở nước ta, sở dĩ xảy ra tình trạng DN thế chấp một kho hàng tại nhiều NH vì các NH quản lý lỏng lẻo trong thủ tục cho vay, kiểm tra tài sản thế chấp, chất lượng tài sản thế chấp và DN không minh bạch thông tin của mình.
Điều này vô hình chung tạo điều kiện dễ thông đồng giữa cán bộ NH và DN, dẫn đến có những khoản cho vay thế chấp hàng hóa không đảm bảo tiêu chuẩn xảy ra. Đây cũng là cơ sở để làm tăng nợ xấu, nợ khó đòi.
Ông Nguyễn Đình Tùng, Tổng giám đốc OCB, cũng cho rằng các NH vướng phải tình trạng trên bởi sự thiếu chặt chẽ trong các khâu lựa chọn khách hàng cũng như biện pháp quản lý lỏng lẻo.
Tuy nhiên, ông Tùng cho rằng không nên vì vậy mà NH hạn chế cho vay thế chấp hàng hóa đối với DN. Bởi nếu không cho vay hình thức này, sẽ có đến 70% tín dụng bị nghẽn, hoạt động sản xuất kinh doanh không phát triển được.
Vì vậy NH cần phải sáng suốt, có biện pháp quản lý hàng hóa tốt, đảm bảo giá trị hàng hóa, có cam kết pháp lý ràng buộc, có nơi gửi gắm hàng hóa an toàn. Lâu nay nhiều NH cho khách hàng để tại kho của họ, đây là một biện pháp tương đối lỏng lẻo, NH nên đề nghị DN gửi ở một kho thứ ba.
ĐỖ LINH
Theo: saigondautu.com.vn
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)