(Vay thế chấp) -
Thủ tướng Chính phủ cho phép tỉnh Nghệ An chuyển 200 tỷ đồng trong tổng số 50% nguồn tăng thu ngân sách địa phương năm 2014 để thực hiện cải cách tiền lương năm 2015 sang thực hiện các nhiệm vụ quan trọng, cấp bách phát sinh góp phần hoàn thành nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2015, trong đó ưu tiên trả nợ các dự án đầu tư xây dựng cơ bản.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu sau khi sử dụng khoản kinh phí trên, tỉnh Nghệ An phải bảo đảm bố trí đủ kinh phí làm lương và cải cách tiền lương năm 2015, không đề nghị ngân sách trung ương hỗ trợ.
Việc quản lý, sử dụng số kinh phí trên thực hiện theo đúng quy định hiện hành, bảo đảm thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ theo các Nghị quyết của Chính phủ và các văn bản chỉ đạo điều hành có liên quan của Thủ tướng Chính phủ. Bộ Tài chính chịu trách nhiệm về thông tin và số liệu báo cáo, chủ trì phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư giám sát việc sử dụng nguồn vốn nêu trên tại địa phương.
Đối với các địa phương khác có đề nghị tương tự tỉnh Nghệ An nêu trên, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Tài chính rà soát theo nguyên tắc các địa phương phải dành một phần đủ nguồn để thực hiện cải cách tiền lương trước khi đề xuất trình Thủ tướng Chính phủ cho phép chuyển nguồn sang thực hiện nhiệm vụ khác; đồng thời các địa phương phải cam kết bảo đảm bố trí đủ kinh phí làm lương và cải cách tiền lương năm 2015, không đề nghị ngân sách trung ương hỗ trợ.
Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài chính hướng dẫn địa phương thực hiện theo đúng quy định.
Theo chinhphu.vn
Hiển thị các bài đăng có nhãn vay thế chấp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn vay thế chấp. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Năm, 18 tháng 6, 2015
Thứ Tư, 17 tháng 6, 2015
Mỹ đưa ảnh phụ nữ lên tờ 10 USD
(Vay thế chấp) -
Trong đợt tái thiết kế tờ 10 USD năm 2020, hình ảnh Bộ trưởng Tài chính đầu tiên - Alexander Hamilton sẽ được thay thế bằng một phụ nữ, nhằm kỷ niệm 100 năm sửa đổi hiến pháp cho phép nữ giới bầu cử.
Theo Bộ trưởng Tài chính Jack Lew, quyết định đưa ai lên đồng bạc này sẽ được đưa ra sau vài tháng tới. Lần cuối cùng một phụ nữ xuất hiện trên tiền Mỹ là vào giai đoạn 1891 - 1896, với hình ảnh Martha Washington - đệ nhất phu nhân đầu tiên của Mỹ, trên chứng chỉ Bạc 1 USD (loại tiền tệ trước khi có đồng 1 USD).
"Chúng ta mới thay đổi gương mặt xuất hiện trên tờ tiền này vài lần từ khi nó được lưu thông. Và tôi tự hào rằng 10 USD mới sẽ là tờ đầu tiên trong hơn một thế kỷ có sự xuất hiện của một phụ nữ", ông Lew cho biết.
Lew là người quyết định cuối cùng về việc chân dung ai sẽ được đưa lên tờ tiền. Tuy vậy, ông cũng đang tham khảo ý kiến người dân. Bộ Tài chính Mỹ sẽ mở website và thu thập gợi ý trên các phương tiện truyền thông xã hội với từ khóa #TheNew10.
Tiêu chí của Lew là thế hệ tiền mới của Mỹ sẽ nhấn mạnh tuyên ngôn dân chủ của nước này. Dĩ nhiên, theo luật, chân dung xuất hiện trên tờ tiền phải là người đã khuất.
Hamilton là Bộ trưởng Tài chính đầu tiên của Mỹ. Hình ảnh của ông đã được đưa vào tờ 10 USD từ năm 1929, thay thế Andrew Jackson - Tổng thống thứ 7 của Mỹ. Jackson sau đó được đưa vào tờ 20 USD cho đến tận hôm nay. Tờ tiền này cũng chính là tâm điển của chiến dịch đưa phụ nữ lên tiền Mỹ gần đây. Tuy nhiên, sau đó, Bộ Tài chính đã quyết định chọn điểm đến là 10 USD.
Dù vậy, Lew cho biết Hamilton sẽ vẫn là một phần thiết kế mới. Họ đang thảo luận liệu có nên để Hamilton xuất hiện bên cạnh người phụ nữ hay để ở trung tâm trong một phiên bản khác của tờ tiền.
Bên cạnh đó, lần đầu tiên trong lịch sử tiền tệ Mỹ, tờ 10 USD mới sẽ có tính năng cho phép người khiếm thị phân biệt với các mệnh giá khác.
Hà Thu (theo CNN)
Theo Bộ trưởng Tài chính Jack Lew, quyết định đưa ai lên đồng bạc này sẽ được đưa ra sau vài tháng tới. Lần cuối cùng một phụ nữ xuất hiện trên tiền Mỹ là vào giai đoạn 1891 - 1896, với hình ảnh Martha Washington - đệ nhất phu nhân đầu tiên của Mỹ, trên chứng chỉ Bạc 1 USD (loại tiền tệ trước khi có đồng 1 USD).
"Chúng ta mới thay đổi gương mặt xuất hiện trên tờ tiền này vài lần từ khi nó được lưu thông. Và tôi tự hào rằng 10 USD mới sẽ là tờ đầu tiên trong hơn một thế kỷ có sự xuất hiện của một phụ nữ", ông Lew cho biết.
Lew là người quyết định cuối cùng về việc chân dung ai sẽ được đưa lên tờ tiền. Tuy vậy, ông cũng đang tham khảo ý kiến người dân. Bộ Tài chính Mỹ sẽ mở website và thu thập gợi ý trên các phương tiện truyền thông xã hội với từ khóa #TheNew10.
Tiêu chí của Lew là thế hệ tiền mới của Mỹ sẽ nhấn mạnh tuyên ngôn dân chủ của nước này. Dĩ nhiên, theo luật, chân dung xuất hiện trên tờ tiền phải là người đã khuất.
Hamilton là Bộ trưởng Tài chính đầu tiên của Mỹ. Hình ảnh của ông đã được đưa vào tờ 10 USD từ năm 1929, thay thế Andrew Jackson - Tổng thống thứ 7 của Mỹ. Jackson sau đó được đưa vào tờ 20 USD cho đến tận hôm nay. Tờ tiền này cũng chính là tâm điển của chiến dịch đưa phụ nữ lên tiền Mỹ gần đây. Tuy nhiên, sau đó, Bộ Tài chính đã quyết định chọn điểm đến là 10 USD.
Dù vậy, Lew cho biết Hamilton sẽ vẫn là một phần thiết kế mới. Họ đang thảo luận liệu có nên để Hamilton xuất hiện bên cạnh người phụ nữ hay để ở trung tâm trong một phiên bản khác của tờ tiền.
Bên cạnh đó, lần đầu tiên trong lịch sử tiền tệ Mỹ, tờ 10 USD mới sẽ có tính năng cho phép người khiếm thị phân biệt với các mệnh giá khác.
Hà Thu (theo CNN)
Hoa mắt với phí ngân hàng
(Vay thế chấp) -
Các ngân hàng (NH) xoay xở “đẻ” ra nhiều loại phí để thu. Điều đáng nói là việc thu phí trở nên khó biết hơn, không công khai hoặc thông báo trước cho khách hàng.
Các NH không nhắm vào các khoản phí dễ thấy như phí rút tiền, chuyển khoản trên ATM mà “sáng tạo” nhiều loại phí ít người để ý hơn để tránh bị phản ứng.
Giao dịch trên mạng cũng bị phí kiểm đếm
Chị Vân (Q.Tân Bình, TP.HCM) cho biết chị mở tài khoản và sử dụng dịch vụ Internet banking của Sacombank. Do đặc thù kinh doanh nên tiền ra vào tài khoản thường xuyên, khách hàng thanh toán tiền xong chị lại phải chuyển tiền để thanh toán cho nơi khác.
Các giao dịch chuyển tiền chị Vân thực hiện trên Internet banking và đã trả phí chuyển khoản, thế nhưng cứ 1-2 ngày sau NH lại gửi tin nhắn thông báo trừ phí kiểm đếm.
“Mức phí này không hề nhỏ, ngày 29-5 tôi bị thu 41.580 đồng, đến ngày 1-6 lại bị thu 58.740 đồng và ngày 2-6 thu 20.900 đồng. Cá biệt ngày 20-1 NH gửi liên tục ba tin nhắn thu phí kiểm đếm cho những giao dịch đã thực hiện trước đó, tổng cộng 165.770 đồng” - chị Vân bức xúc.
Theo chị Vân, giao dịch được thực hiện trên Internet banking, tức không phải kiểm đếm nhưng NH vẫn thu phí kiểm đếm là rất vô lý.
“Sao NH không thông báo mức phí trước khi chuyển khoản cho khách hàng biết mà đợi khi giao dịch đã kết thúc thì 1-2 ngày sau mới thu?” - chị Vân đặt câu hỏi.
Ngoài ra, chị Vân cho rằng yêu cầu phải duy trì tiền trong tài khoản hai ngày là bắt chẹt khách hàng vì kinh doanh phải xoay vòng tiền liên tục, ít ai duy trì tiền đến hai ngày.
Trả lời về trường hợp này, đại diện Sacombank nói các khoản phí của chị Vân phát sinh do NH truy thu lại các giao dịch trước đó.
“Lẽ ra NH sẽ thu phí kiểm đếm ngay khi nộp tiền mặt vào tài khoản nhưng chính sách hiện nay là NH không thu phí ngay. Nếu khách hàng duy trì số tiền này trong tài khoản hai ngày, NH sẽ miễn phí kiểm đếm. Trường hợp chị Vân do chuyển số tiền này đi ngay trong ngày nên NH truy thu lại” - vị này nói. Hiện phí kiểm đếm theo quy định của NH là 0,027% trên số tiền nộp vào, tối thiểu 19.000 đồng.
Không chỉ Sacombank, theo tìm hiểu của chúng tôi, nhiều NH cũng thu phí nộp tiền mặt vào tài khoản và phí kiểm đếm nếu khách hàng nộp tiền mặt vào tài khoản ở khác tỉnh, thành phố và chuyển số tiền này đi ngay trong ngày dù dưới hình thức nào như chuyển khoản, rút tại ATM...
Mới đây anh T.Minh (Q.1) nộp 500 triệu đồng vào tài khoản mở tại một NH nước ngoài, sau đó chuyển khoản trên Internet banking để thanh toán tiền mua nhà cũng bị NH thu 450.000 đồng phí kiểm đếm.
Lý do các NH đưa ra khi thu phí này là do có nhiều khách hàng lợi dụng bộ máy của NH để làm công tác kiểm đếm. Sau khi tiền vào tài khoản thì lập tức chuyển đi, NH không hưởng được bất kỳ lợi ích nào từ khoản tiền này, kể cả lãi suất qua đêm.
Tăng phí
Từ đầu tháng 4-2015, ACB bắt đầu thu phí mở thẻ ghi nợ nội địa với mức 30.000 đồng, chưa kể phí thường niên thẻ ghi nợ với mức 50.000 đồng/năm. HDBank bắt đầu thu phí thường niên mức 60.000 đồng/thẻ từ tháng 5.
Ngoài ra, NH này cũng hạ hạn mức rút tiền của chủ thẻ từ mức 20 triệu đồng/ngày xuống còn 6 triệu đồng/ngày với lý do đang nâng cấp hệ thống bảo mật. Số tiền rút tối đa mỗi lần từ mức 5 triệu đồng cũng bị hạ xuống còn 2 triệu đồng/lần.
VIB lại dùng “chiêu” tăng số dư bình quân phải duy trì trong thẻ. Trước đây NH này quy định nếu chủ thẻ duy trì số dư bình quân 500.000 đồng trong tài khoản thì được miễn phí các giao dịch rút tiền trên ATM và chuyển khoản trên Internet banking... nhưng số tiền này hiện được nâng lên 1 triệu đồng.
Ngoài ra, NH này cũng tăng phí giao dịch chuyển khoản qua kênh thanh toán điện tử với khách hàng không thỏa điều kiện về số dư.
Cụ thể phí chuyển khoản liên NH qua tài khoản thanh toán trước đây mức thu tối thiểu là 7.700 đồng/giao dịch nay tăng lên mức 13.000 đồng, phí chuyển khoản liên NH qua thẻ mức thu tối thiểu trước đây là 8.800 đồng nay tăng lên 11.000 đồng/giao dịch.
Có NH quy định tài khoản chi lương là miễn phí, hoặc chỉ cần duy trì trong tài khoản 100.000 đồng là được miễn phí các giao dịch rút tiền, chuyển khoản, giờ yêu cầu phải duy trì mức 250.000 đồng mới được miễn phí.
Theo các chuyên gia, đây cũng là một hình thức tăng phí, bởi NH bắt chủ thẻ phải gửi tiền gửi không kỳ hạn nhiều hơn và hưởng lợi nhờ việc chỉ phải trả lãi suất không kỳ hạn.
Việc giữ nguyên phí nhưng giảm số tiền tối đa được rút mỗi lần thực chất cũng là một hình thức tăng phí vì cùng số tiền rút nhưng số phí khách hàng phải trả cao hơn so với trước đây.
Theo quy định của NH Nhà nước, nếu thay đổi phí các NH phải thông báo công khai trên website và trên máy ATM. Các NH cũng làm điều này nhưng đối phó bằng cách cho dòng thông báo phí chỉ hiện ra chớp nhoáng khiến khách hàng không kịp đọc kỹ xem thông báo gì.
Cũng có NH gửi email thông báo nhưng chỉ ghi là sẽ điều chỉnh phí, không nói tăng hay giảm hay mức thu cũ là bao nhiêu nên những chủ thẻ không sử dụng thường xuyên dịch vụ khó mà biết. Trên website, mục phí cũng được đưa vào trang trong nên khách hàng muốn tìm hiểu về phí cũng rất khó.
Chủ thẻ gánh bao nhiêu loại phí?
Không chỉ các loại phí liên quan đến thẻ, hiện các NH nhắm đến các loại phí giao dịch NH điện tử để tăng thu.
Chỉ với dịch vụ NH điện tử, NH có thể thu hàng chục loại phí khác nhau như phí duy trì tài khoản, phí thường niên, phí duy trì sử dụng Internet banking, phí sử dụng dịch vụ Internet banking, phí sử dụng mobile banking, phí chuyển tiền liên NH qua tài khoản, phí cấp thiết bị token (mật khẩu động)...
Chưa kể trong mỗi dịch vụ, NH lại chia thành các khoản nhỏ để có thể “khai thác” thêm nhiều khoản phí từ khách hàng.
Chẳng hạn, tại Techcombank phí dịch vụ NH điện tử chia thành nhiều khoản mục, riêng phí dịch vụ có phí đăng ký dịch vụ, phí với khách hàng dùng xác thực qua SMS hoặc token, phí thay đổi dịch vụ, phí hủy dịch vụ, phí tra soát giao dịch.
Trong tra soát giao dịch NH áp dụng phí riêng với tra soát trong cùng hệ thống hoặc khác hệ thống hoặc tra soát với giao dịch liên quan đến sự cố bất khả kháng, lỗi đường truyền, mạng viễn thông... Với sử dụng token có phí mua thiết bị lần đầu, phí cấp lại token do hỏng, mất...
Tại VIB, nếu khách hàng sử dụng dịch vụ NH điện tử mà thay đổi gói dịch vụ bảo mật từ hình thức dùng tin nhắn qua token cũng bị thu phí 10.000 đồng/lần thay đổi. Nếu chấm dứt dịch vụ, NH thu mức phí tương tự.
Chưa kể mức giá thiết bị token mỗi nơi mỗi khác, tại VIB giá thiết bị này là 350.000 đồng/chiếc nhưng tại Techcombank giá 200.000 đồng/chiếc, còn tại ACB là 450.000 đồng/chiếc.
Giải thích về việc đặt ra quá nhiều khoản phí khác nhau, nhiều NH lý giải rằng đây là dịch vụ tiện ích, để phát triển dịch vụ NH điện tử NH phải đầu tư hệ thống core banking chi phí rất lớn. Hơn nữa dịch vụ này mang lại tiện ích rất lớn cho khách hàng.
Đại diện một NH cho biết chi phí giao dịch dịch vụ NH điện tử chỉ bằng 60-70% chi phí giao dịch tại quầy. “NH đã cố gắng làm rẻ lại, đồng thời định kỳ có sự so sánh với NH bạn” - vị này nói.
Nguồn thu lớn từ dịch vụ
Theo tìm hiểu của Tuổi Trẻ, nguồn thu từ hoạt động dịch vụ của nhiều NH đã tăng đáng kể trong thời gian gần đây, trong đó góp phần không nhỏ có nguồn thu từ các dịch vụ thẻ và dịch vụ NH điện tử.
Chẳng hạn trong quý 1-2015, ACB đã thu hơn 168 tỉ đồng từ dịch vụ, trong khi con số này cùng kỳ năm ngoái là 158 tỉ đồng; VIB đạt lãi từ dịch vụ hơn 43 tỉ đồng, gần gấp đôi cùng kỳ năm trước; thu từ dịch vụ của VCB đạt hơn 337,5 tỉ đồng, tăng mạnh so với mức 273,4 tỉ đồng cùng kỳ.
Theo nhiều chuyên gia, việc trả phí sử dụng dịch vụ NH là chuyện bình thường nhưng NH mới đầu tư, không nên cứ phải thu phí triệt để từ khách hàng mà có thể khai thác nhiều sản phẩm, dịch vụ khác nhau để khuyến khích khách hàng thay đổi thói quen giao dịch bằng tiền mặt sang sử dụng dịch vụ NH.
ÁNH HỒNG
Theo: tuổi trẻ
Các NH không nhắm vào các khoản phí dễ thấy như phí rút tiền, chuyển khoản trên ATM mà “sáng tạo” nhiều loại phí ít người để ý hơn để tránh bị phản ứng.
Giao dịch trên mạng cũng bị phí kiểm đếm
Chị Vân (Q.Tân Bình, TP.HCM) cho biết chị mở tài khoản và sử dụng dịch vụ Internet banking của Sacombank. Do đặc thù kinh doanh nên tiền ra vào tài khoản thường xuyên, khách hàng thanh toán tiền xong chị lại phải chuyển tiền để thanh toán cho nơi khác.
Các giao dịch chuyển tiền chị Vân thực hiện trên Internet banking và đã trả phí chuyển khoản, thế nhưng cứ 1-2 ngày sau NH lại gửi tin nhắn thông báo trừ phí kiểm đếm.
“Mức phí này không hề nhỏ, ngày 29-5 tôi bị thu 41.580 đồng, đến ngày 1-6 lại bị thu 58.740 đồng và ngày 2-6 thu 20.900 đồng. Cá biệt ngày 20-1 NH gửi liên tục ba tin nhắn thu phí kiểm đếm cho những giao dịch đã thực hiện trước đó, tổng cộng 165.770 đồng” - chị Vân bức xúc.
Theo chị Vân, giao dịch được thực hiện trên Internet banking, tức không phải kiểm đếm nhưng NH vẫn thu phí kiểm đếm là rất vô lý.
“Sao NH không thông báo mức phí trước khi chuyển khoản cho khách hàng biết mà đợi khi giao dịch đã kết thúc thì 1-2 ngày sau mới thu?” - chị Vân đặt câu hỏi.
Ngoài ra, chị Vân cho rằng yêu cầu phải duy trì tiền trong tài khoản hai ngày là bắt chẹt khách hàng vì kinh doanh phải xoay vòng tiền liên tục, ít ai duy trì tiền đến hai ngày.
Trả lời về trường hợp này, đại diện Sacombank nói các khoản phí của chị Vân phát sinh do NH truy thu lại các giao dịch trước đó.
“Lẽ ra NH sẽ thu phí kiểm đếm ngay khi nộp tiền mặt vào tài khoản nhưng chính sách hiện nay là NH không thu phí ngay. Nếu khách hàng duy trì số tiền này trong tài khoản hai ngày, NH sẽ miễn phí kiểm đếm. Trường hợp chị Vân do chuyển số tiền này đi ngay trong ngày nên NH truy thu lại” - vị này nói. Hiện phí kiểm đếm theo quy định của NH là 0,027% trên số tiền nộp vào, tối thiểu 19.000 đồng.
Không chỉ Sacombank, theo tìm hiểu của chúng tôi, nhiều NH cũng thu phí nộp tiền mặt vào tài khoản và phí kiểm đếm nếu khách hàng nộp tiền mặt vào tài khoản ở khác tỉnh, thành phố và chuyển số tiền này đi ngay trong ngày dù dưới hình thức nào như chuyển khoản, rút tại ATM...
Mới đây anh T.Minh (Q.1) nộp 500 triệu đồng vào tài khoản mở tại một NH nước ngoài, sau đó chuyển khoản trên Internet banking để thanh toán tiền mua nhà cũng bị NH thu 450.000 đồng phí kiểm đếm.
Lý do các NH đưa ra khi thu phí này là do có nhiều khách hàng lợi dụng bộ máy của NH để làm công tác kiểm đếm. Sau khi tiền vào tài khoản thì lập tức chuyển đi, NH không hưởng được bất kỳ lợi ích nào từ khoản tiền này, kể cả lãi suất qua đêm.
Tăng phí
Từ đầu tháng 4-2015, ACB bắt đầu thu phí mở thẻ ghi nợ nội địa với mức 30.000 đồng, chưa kể phí thường niên thẻ ghi nợ với mức 50.000 đồng/năm. HDBank bắt đầu thu phí thường niên mức 60.000 đồng/thẻ từ tháng 5.
Ngoài ra, NH này cũng hạ hạn mức rút tiền của chủ thẻ từ mức 20 triệu đồng/ngày xuống còn 6 triệu đồng/ngày với lý do đang nâng cấp hệ thống bảo mật. Số tiền rút tối đa mỗi lần từ mức 5 triệu đồng cũng bị hạ xuống còn 2 triệu đồng/lần.
VIB lại dùng “chiêu” tăng số dư bình quân phải duy trì trong thẻ. Trước đây NH này quy định nếu chủ thẻ duy trì số dư bình quân 500.000 đồng trong tài khoản thì được miễn phí các giao dịch rút tiền trên ATM và chuyển khoản trên Internet banking... nhưng số tiền này hiện được nâng lên 1 triệu đồng.
Ngoài ra, NH này cũng tăng phí giao dịch chuyển khoản qua kênh thanh toán điện tử với khách hàng không thỏa điều kiện về số dư.
Cụ thể phí chuyển khoản liên NH qua tài khoản thanh toán trước đây mức thu tối thiểu là 7.700 đồng/giao dịch nay tăng lên mức 13.000 đồng, phí chuyển khoản liên NH qua thẻ mức thu tối thiểu trước đây là 8.800 đồng nay tăng lên 11.000 đồng/giao dịch.
Có NH quy định tài khoản chi lương là miễn phí, hoặc chỉ cần duy trì trong tài khoản 100.000 đồng là được miễn phí các giao dịch rút tiền, chuyển khoản, giờ yêu cầu phải duy trì mức 250.000 đồng mới được miễn phí.
Theo các chuyên gia, đây cũng là một hình thức tăng phí, bởi NH bắt chủ thẻ phải gửi tiền gửi không kỳ hạn nhiều hơn và hưởng lợi nhờ việc chỉ phải trả lãi suất không kỳ hạn.
Việc giữ nguyên phí nhưng giảm số tiền tối đa được rút mỗi lần thực chất cũng là một hình thức tăng phí vì cùng số tiền rút nhưng số phí khách hàng phải trả cao hơn so với trước đây.
Theo quy định của NH Nhà nước, nếu thay đổi phí các NH phải thông báo công khai trên website và trên máy ATM. Các NH cũng làm điều này nhưng đối phó bằng cách cho dòng thông báo phí chỉ hiện ra chớp nhoáng khiến khách hàng không kịp đọc kỹ xem thông báo gì.
Cũng có NH gửi email thông báo nhưng chỉ ghi là sẽ điều chỉnh phí, không nói tăng hay giảm hay mức thu cũ là bao nhiêu nên những chủ thẻ không sử dụng thường xuyên dịch vụ khó mà biết. Trên website, mục phí cũng được đưa vào trang trong nên khách hàng muốn tìm hiểu về phí cũng rất khó.
Chủ thẻ gánh bao nhiêu loại phí?
Không chỉ các loại phí liên quan đến thẻ, hiện các NH nhắm đến các loại phí giao dịch NH điện tử để tăng thu.
Chỉ với dịch vụ NH điện tử, NH có thể thu hàng chục loại phí khác nhau như phí duy trì tài khoản, phí thường niên, phí duy trì sử dụng Internet banking, phí sử dụng dịch vụ Internet banking, phí sử dụng mobile banking, phí chuyển tiền liên NH qua tài khoản, phí cấp thiết bị token (mật khẩu động)...
Chưa kể trong mỗi dịch vụ, NH lại chia thành các khoản nhỏ để có thể “khai thác” thêm nhiều khoản phí từ khách hàng.
Chẳng hạn, tại Techcombank phí dịch vụ NH điện tử chia thành nhiều khoản mục, riêng phí dịch vụ có phí đăng ký dịch vụ, phí với khách hàng dùng xác thực qua SMS hoặc token, phí thay đổi dịch vụ, phí hủy dịch vụ, phí tra soát giao dịch.
Trong tra soát giao dịch NH áp dụng phí riêng với tra soát trong cùng hệ thống hoặc khác hệ thống hoặc tra soát với giao dịch liên quan đến sự cố bất khả kháng, lỗi đường truyền, mạng viễn thông... Với sử dụng token có phí mua thiết bị lần đầu, phí cấp lại token do hỏng, mất...
Tại VIB, nếu khách hàng sử dụng dịch vụ NH điện tử mà thay đổi gói dịch vụ bảo mật từ hình thức dùng tin nhắn qua token cũng bị thu phí 10.000 đồng/lần thay đổi. Nếu chấm dứt dịch vụ, NH thu mức phí tương tự.
Chưa kể mức giá thiết bị token mỗi nơi mỗi khác, tại VIB giá thiết bị này là 350.000 đồng/chiếc nhưng tại Techcombank giá 200.000 đồng/chiếc, còn tại ACB là 450.000 đồng/chiếc.
Giải thích về việc đặt ra quá nhiều khoản phí khác nhau, nhiều NH lý giải rằng đây là dịch vụ tiện ích, để phát triển dịch vụ NH điện tử NH phải đầu tư hệ thống core banking chi phí rất lớn. Hơn nữa dịch vụ này mang lại tiện ích rất lớn cho khách hàng.
Đại diện một NH cho biết chi phí giao dịch dịch vụ NH điện tử chỉ bằng 60-70% chi phí giao dịch tại quầy. “NH đã cố gắng làm rẻ lại, đồng thời định kỳ có sự so sánh với NH bạn” - vị này nói.
Nguồn thu lớn từ dịch vụ
Theo tìm hiểu của Tuổi Trẻ, nguồn thu từ hoạt động dịch vụ của nhiều NH đã tăng đáng kể trong thời gian gần đây, trong đó góp phần không nhỏ có nguồn thu từ các dịch vụ thẻ và dịch vụ NH điện tử.
Chẳng hạn trong quý 1-2015, ACB đã thu hơn 168 tỉ đồng từ dịch vụ, trong khi con số này cùng kỳ năm ngoái là 158 tỉ đồng; VIB đạt lãi từ dịch vụ hơn 43 tỉ đồng, gần gấp đôi cùng kỳ năm trước; thu từ dịch vụ của VCB đạt hơn 337,5 tỉ đồng, tăng mạnh so với mức 273,4 tỉ đồng cùng kỳ.
Theo nhiều chuyên gia, việc trả phí sử dụng dịch vụ NH là chuyện bình thường nhưng NH mới đầu tư, không nên cứ phải thu phí triệt để từ khách hàng mà có thể khai thác nhiều sản phẩm, dịch vụ khác nhau để khuyến khích khách hàng thay đổi thói quen giao dịch bằng tiền mặt sang sử dụng dịch vụ NH.
ÁNH HỒNG
Theo: tuổi trẻ
Thứ Ba, 16 tháng 6, 2015
Nới hạn mức vay tín chấp: Nông dân có ồ ạt vay vốn?
(Vay thế chấp) -
Dự báo, việc Chính phủ ban hành Nghị định 55/2015/NĐ-CP nới hạn mức cho vay tín chấp trong lĩnh vực nông nghiệp sẽ khiến tín dụng nông nghiệp bùng nổ. Song thực tế cho thấy, để tín dụng nông nghiệp tăng mạnh, thì chỉ nới hạn mức vay tín chấp là chưa đủ.
Theo Nghị định 55/2015/NĐ-CP, từ ngày 25/7/2015, đối tượng được vay vốn nông nghiệp ưu đãi sẽ được mở rộng hơn, mức cho vay cũng được nâng lên gấp 1,5-2 lần. Đặc biệt, hạn mức cho vay tín chấp cũng được tăng mạnh. Cá nhân, hộ gia đình sản xuất - kinh doanh nông nghiệp có thể được vay 50-100 triệu đồng (đối tượng đầu tư trồng cây công nghiệp, cây ăn quả lâu năm được vay tối đa 200 triệu đồng), hộ nuôi trồng thủy sản được vay tín chấp tối đa 2 tỷ đồng. Riêng với liên hiệp HTX nuôi trồng thủy sản hoặc khai thác hải sản xa bờ, các ngân hàng được phép cho vay tối đa 3 tỷ đồng không cần tài sản thế chấp.
Bên cạnh đó, Nghị định 55/2015/NĐ-CP cũng khuyến khích tổ chức sản xuất nông nghiệp theo mô hình liên kết, mô hình ứng dụng công nghệ cao bằng việc cho vay không có tài sản bảo đảm lên đến 70-80% giá trị dự án.
Với những quy định trên, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) hy vọng, tín dụng nông nghiệp sẽ tăng mạnh hơn trong thời gian tới, hỗ trợ tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Theo số liệu của NHNN, trong 5 năm qua, tín dụng nông nghiệp đã tăng 2,5 lần, tổng tín dụng nông nghiệp hiện chiếm hơn 19% tổng tín dụng cả nước.
Thực tế, thời gian gần đây, cùng với làn sóng đầu tư vào nông nghiệp đang dần khởi sắc, nhiều ngân hàng cũng vào cuộc cạnh tranh cho vay nông nghiệp. Ông Trần Bắc Hà, Chủ tịch Hội đồng Thành viên Ngân hàng BIDV cho hay, chiến lược của BIDV trong thời gian tới là đẩy mạnh tín dụng nông nghiệp và nông thôn, đặc biệt tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Lãnh đạo nhiều ngân hàng cũng nhận định, nông nghiệp là lĩnh vực có nhiều lợi thế nhất ở nước ta, nhưng tăng trưởng tín dụng vẫn còn hạn chế. Tuy biên độ lợi nhuận ở phân khúc này không cao bằng một số phân khúc khác, nhưng lại an toàn, hiệu quả hơn, nợ xấu thấp.
Theo phản ánh của nhiều ngân hàng, vướng mắc lớn nhất trong hoạt động cho vay nông nghiệp là người dân không có tài sản thế chấp, trong khi để đầu tư một trang trại hiện đại, số vốn đầu tư lên tới hàng tỷ đồng. Vì vậy, việc Nghị định 55/2015/NĐ-CP ra đời được kỳ vọng sẽ cởi trói cho vay nông nghiệp.
Tuy nhiên, đại diện nhiều ngân hàng cho rằng, chỉ riêng Nghị định 55 chưa đủ kích thích cho vay nông nghiệp. “Tuy nông nghiệp là lĩnh vực an toàn hơn các lĩnh vực khác, song chỉ cần 1-2 khoản nợ xấu là có khi lợi nhuận cả năm của một chi nhánh bằng không. Chính vì vậy, chúng tôi chủ yếu cho vay thế chấp”, Phó tổng giám đốc một ngân hàng TMCP chia sẻ.
Cho dù hiện có nhiều ngân hàng tham gia tín dụng nông nghiệp, song chủ yếu tập trung vào các dự án lớn, các doanh nghiệp sản xuất, thu mua, chế biến, xuất khẩu nông sản. Rất ít ngân hàng tài trợ trực tiếp cho hộ nông dân làm nông nghiệp. Cho đến nay, hầu như chỉ Agribank là cho vay đến tận các hộ gia đình ở vùng sâu, vùng xa. Các ngân hàng TMCP còn lại, dù có tham gia cho vay nông nghiệp, thì cũng chỉ bám trụ ở những thành phố lớn, thị xã, thị trấn. Cho dù Nghị định 55 có hiệu lực, rất ít ngân hàng nào dám “mạnh tay” bơm 3 tỷ đồng cho vay mà không cần thế chấp.
Song cũng có bài học cho thấy, cho vay tín chấp trong nông nghiệp, kể cả khi chưa có Nghị định 55/2015/NĐ-CP vẫn tăng trưởng mạnh, nếu có sự liên kết giữa nông dân - doanh nghiệp - ngân hàng và chính quyền địa phương mà Hà Tĩnh là ví dụ điển hình.
Ông Nguyễn Trọng Hiền, Giám đốc Agribank Chi nhánh Đức Thọ (Hà Tĩnh) cho biết, ngân hàng đã cho nhiều hộ gia đình vay tín chấp, trong đó có hộ gia đình ông Nguyễn Thái Huy (ở xóm Tân Quang, xã Đức Lạng, huyện Đức Thọ) vay tín chấp 3 tỷ đồng để đầu tư trang trại lợn nái.
“Ban đầu khi cho vay tín chấp 3 tỷ đồng, cán bộ tín dụng ngồi trên đống lửa, ngày nào cũng phải chạy qua trang trại để xem xét, nhưng bây giờ thì yên tâm rồi. Nếu tỉnh, huyện không vào cuộc, chúng tôi cũng chẳng dám cho vay”, ông Hiền tiết lộ và cho biết, sở dĩ ngân hàng dám cho vay, bởi UBND huyện đứng ra cam kết sẽ bao tiêu sản phẩm trong 5 năm đầu, UBND tỉnh cam kết sẽ tài trợ 3 tỷ đồng, nếu sau khi nghiệm thu thấy trang trại đạt tiêu chuẩn.
Thực tế trên cho thấy, để thúc đẩy tín dụng nông nghiệp, thì việc nới hạn mức tín chấp là chưa đủ, mà cần có sự vào cuộc của chính quyền địa phương và doanh nghiệp.
Thùy Liên
Theo Nghị định 55/2015/NĐ-CP, từ ngày 25/7/2015, đối tượng được vay vốn nông nghiệp ưu đãi sẽ được mở rộng hơn, mức cho vay cũng được nâng lên gấp 1,5-2 lần. Đặc biệt, hạn mức cho vay tín chấp cũng được tăng mạnh. Cá nhân, hộ gia đình sản xuất - kinh doanh nông nghiệp có thể được vay 50-100 triệu đồng (đối tượng đầu tư trồng cây công nghiệp, cây ăn quả lâu năm được vay tối đa 200 triệu đồng), hộ nuôi trồng thủy sản được vay tín chấp tối đa 2 tỷ đồng. Riêng với liên hiệp HTX nuôi trồng thủy sản hoặc khai thác hải sản xa bờ, các ngân hàng được phép cho vay tối đa 3 tỷ đồng không cần tài sản thế chấp.
Bên cạnh đó, Nghị định 55/2015/NĐ-CP cũng khuyến khích tổ chức sản xuất nông nghiệp theo mô hình liên kết, mô hình ứng dụng công nghệ cao bằng việc cho vay không có tài sản bảo đảm lên đến 70-80% giá trị dự án.
Với những quy định trên, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) hy vọng, tín dụng nông nghiệp sẽ tăng mạnh hơn trong thời gian tới, hỗ trợ tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Theo số liệu của NHNN, trong 5 năm qua, tín dụng nông nghiệp đã tăng 2,5 lần, tổng tín dụng nông nghiệp hiện chiếm hơn 19% tổng tín dụng cả nước.
Thực tế, thời gian gần đây, cùng với làn sóng đầu tư vào nông nghiệp đang dần khởi sắc, nhiều ngân hàng cũng vào cuộc cạnh tranh cho vay nông nghiệp. Ông Trần Bắc Hà, Chủ tịch Hội đồng Thành viên Ngân hàng BIDV cho hay, chiến lược của BIDV trong thời gian tới là đẩy mạnh tín dụng nông nghiệp và nông thôn, đặc biệt tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Lãnh đạo nhiều ngân hàng cũng nhận định, nông nghiệp là lĩnh vực có nhiều lợi thế nhất ở nước ta, nhưng tăng trưởng tín dụng vẫn còn hạn chế. Tuy biên độ lợi nhuận ở phân khúc này không cao bằng một số phân khúc khác, nhưng lại an toàn, hiệu quả hơn, nợ xấu thấp.
Theo phản ánh của nhiều ngân hàng, vướng mắc lớn nhất trong hoạt động cho vay nông nghiệp là người dân không có tài sản thế chấp, trong khi để đầu tư một trang trại hiện đại, số vốn đầu tư lên tới hàng tỷ đồng. Vì vậy, việc Nghị định 55/2015/NĐ-CP ra đời được kỳ vọng sẽ cởi trói cho vay nông nghiệp.
Tuy nhiên, đại diện nhiều ngân hàng cho rằng, chỉ riêng Nghị định 55 chưa đủ kích thích cho vay nông nghiệp. “Tuy nông nghiệp là lĩnh vực an toàn hơn các lĩnh vực khác, song chỉ cần 1-2 khoản nợ xấu là có khi lợi nhuận cả năm của một chi nhánh bằng không. Chính vì vậy, chúng tôi chủ yếu cho vay thế chấp”, Phó tổng giám đốc một ngân hàng TMCP chia sẻ.
Cho dù hiện có nhiều ngân hàng tham gia tín dụng nông nghiệp, song chủ yếu tập trung vào các dự án lớn, các doanh nghiệp sản xuất, thu mua, chế biến, xuất khẩu nông sản. Rất ít ngân hàng tài trợ trực tiếp cho hộ nông dân làm nông nghiệp. Cho đến nay, hầu như chỉ Agribank là cho vay đến tận các hộ gia đình ở vùng sâu, vùng xa. Các ngân hàng TMCP còn lại, dù có tham gia cho vay nông nghiệp, thì cũng chỉ bám trụ ở những thành phố lớn, thị xã, thị trấn. Cho dù Nghị định 55 có hiệu lực, rất ít ngân hàng nào dám “mạnh tay” bơm 3 tỷ đồng cho vay mà không cần thế chấp.
Song cũng có bài học cho thấy, cho vay tín chấp trong nông nghiệp, kể cả khi chưa có Nghị định 55/2015/NĐ-CP vẫn tăng trưởng mạnh, nếu có sự liên kết giữa nông dân - doanh nghiệp - ngân hàng và chính quyền địa phương mà Hà Tĩnh là ví dụ điển hình.
Ông Nguyễn Trọng Hiền, Giám đốc Agribank Chi nhánh Đức Thọ (Hà Tĩnh) cho biết, ngân hàng đã cho nhiều hộ gia đình vay tín chấp, trong đó có hộ gia đình ông Nguyễn Thái Huy (ở xóm Tân Quang, xã Đức Lạng, huyện Đức Thọ) vay tín chấp 3 tỷ đồng để đầu tư trang trại lợn nái.
“Ban đầu khi cho vay tín chấp 3 tỷ đồng, cán bộ tín dụng ngồi trên đống lửa, ngày nào cũng phải chạy qua trang trại để xem xét, nhưng bây giờ thì yên tâm rồi. Nếu tỉnh, huyện không vào cuộc, chúng tôi cũng chẳng dám cho vay”, ông Hiền tiết lộ và cho biết, sở dĩ ngân hàng dám cho vay, bởi UBND huyện đứng ra cam kết sẽ bao tiêu sản phẩm trong 5 năm đầu, UBND tỉnh cam kết sẽ tài trợ 3 tỷ đồng, nếu sau khi nghiệm thu thấy trang trại đạt tiêu chuẩn.
Thực tế trên cho thấy, để thúc đẩy tín dụng nông nghiệp, thì việc nới hạn mức tín chấp là chưa đủ, mà cần có sự vào cuộc của chính quyền địa phương và doanh nghiệp.
Thùy Liên
Thứ Bảy, 13 tháng 6, 2015
Gỡ nút thắt thủ tục và tài sản thế chấp
(Vay thế chấp) -
(Tài chính) Chiếm đến 97% số doanh nghiệp (DN) hoạt động trên thị trường, đóng góp hơn 40% GDP và sử dụng tới 51% lao động xã hội, song việc tiếp cận vốn của DN nhỏ và vừa (DNNVV) vẫn nan giải, khiến hoạt động sản xuất - kinh doanh của khối này vẫn chưa đạt hiệu quả.
Theo các chuyên gia, cần có sự đối xử công bằng và gỡ những rào cản về thủ tục pháp lý, yêu cầu về tài sản thế chấp phù hợp với năng lực DNNVV thì mới giúp mở lối tín dụng cho khối này.
Vướng từ thủ tục
Theo ông Andrew Terry - GS. chuyên ngành quy chế kinh doanh thuộc Đại học Sydney (Australia), tại các thị trường mới nổi có đến 45 - 55% DNNVV không tiếp cận được với các khoản vay thế chấp chính thức, đối với các DN siêu nhỏ (hộ gia đình) tỷ lệ này lên đến 65 - 72%. Tuy nhiên, tại Việt Nam, con số này còn đáng lo ngại hơn khi chỉ có 30% DNNVV tiếp cận được vốn vay, còn lại 70% DN phải sử dụng nguồn vốn tự có hoặc vay từ các nguồn khác.
Tiếp cận vốn vay là một trong những rào cản hàng đầu hiện nay mà DNNVV phải đối mặt. Theo ông Cao Sỹ Kiêm - Chủ tịch Hiệp hội DNNVV Việt Nam (VINASME), mặc dù Chính phủ đã triển khai các chính sách, chương trình hỗ trợ vốn cho khối này như bảo lãnh tín dụng, hỗ trợ tín dụng, nhưng trên thực tế chỉ có một số lượng nhỏ DN được thụ hưởng các chính sách này, còn phần lớn gặp khó khăn trong tiếp cận vốn. Điều đáng chú ý là tuy chỉ có một tỷ lệ nhỏ các DNNVV tiếp cận được các nguồn vốn vay từ ngân hàng, song phần nhiều trong số này vẫn phải chịu mức lãi suất cao (từ 15 - 18%).
Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước) cho biết, ngoài các chính sách ưu đãi, hỗ trợ vay vốn nói chung, DNNVV còn được hưởng các chính sách ưu đãi riêng. Theo đó, có khoảng 30% nguồn vốn tín dụng hàng năm chảy vào các DNNVV, song theo đánh giá của các chuyên gia, con số này không "thấm tháp" vào đâu so với nhu cầu phát triển của khối DNNVV.
Việc khó tiếp cận vốn vay, đặc biệt trong giai đoạn khủng hoảng vừa qua càng khiến cho các DNNVV dễ tổn thương hơn, khi số lượng DN giải thể, ngừng hoặc tạm ngưng hoạt động tăng cao. Theo khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), một trong hai nguyên nhân chính khiến cho DN phải ngừng hoạt động là do không tìm được đầu ra sản phẩm và DN không vay được vốn.
Một trong những trở ngại lớn nhất khiến cho DNNVV khó tiếp cận vốn, theo VINASME, là do thủ tục vay, khi có đến 55% DN cho rằng hồ sơ vay vốn phức tạp, yêu cầu quá cao; 50% gặp trở ngại do những yêu cầu về tài sản thế chấp, như thiếu tài sản có giá trị cao để thế chấp, ngân hàng không đa dạng hóa tài sản thế chấp như sử dụng hàng trong kho, các khoản thu…; và có đến 80% DNNVV cho rằng tỷ lệ lãi suất hiện nay chưa phù hợp, điều kiện vay vốn chưa phù hợp với DNNVV. Thực tế này dẫn đến, nhiều DNNVV luôn trong tình trạng thiếu vốn, gây trở ngại lớn cho hoạt động đầu tư sản xuất, kinh doanh, đặc biệt trong giai đoạn khủng hoảng vừa qua, khi DN gặp rất nhiều sức ép về thị trường tiêu thụ, hàng tồn kho tăng cao.
Công bằng với DNNVV
DNNVV có sự phát triển khá nhanh, song ông Kiêm cho rằng do chưa được chuẩn bị một cách đầy đủ về kỹ năng, năng lực và kiến thức kinh doanh, nên việc tiếp cận và sử dụng vốn còn nhiều hạn chế. Còn theo bà Hà Thu Giang - Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, không chỉ tiêu chí xác định DNNVV hiện chưa rõ ràng, thống nhất, gây khó khăn cho tổ chức tín dụng trong thẩm định và áp dụng cơ chế cho vay, mà các chính sách bảo lãnh vốn vay hiện vẫn chưa hiệu quả, khi các thủ tục còn nhiều bất cập, chưa thông thoáng.
Với các tổ chức tín dụng, do chịu áp lực lớn trong trong cân đối nguồn vốn, trong khi việc thẩm định dự án, phương án sản xuất - kinh doanh của DNNVV gặp nhiều khó khăn do quy mô hoạt động nhỏ, sản xuất không ổn định, lại thiếu tài sản thế chấp, nên đây là lý do phổ biến khiến các DN bị từ chối các khoản vay.
Tuy nhiên, ở góc độ khác ông Sergio Arzenri - Giám đốc Trung tâm OECD vì sự phát triển của doanh nhân, DNNVV, lại cho rằng DNNVV hiện đang bị đối xử bất bình đẳng với các DN lớn. Trong khi khối này phải trả thuế gấp 6 lần so với DN lớn, các giao dịch thương mại cũng hiệu quả hơn do tính linh động trong mô hình hoạt động, song phần lớn các ưu đãi, hay cơ chế bảo lãnh tín dụng lại chỉ có các DN lớn được hưởng. Do đó, bên cạnh việc hỗ trợ và nâng cao sức cạnh tranh cho DNNVV để nâng cao hiệu quả sử dụng đồng vốn, ông Sergio cho rằng các chính sách hỗ trợ cần được thực thi và được đo lường hiệu quả tác động, trong đó gỡ nút thắt về tài sản đảm bảo, xử lý các khoản nợ xấu là yêu cầu cần thiết đặt ra hiện nay.
Sự ra đời của Quỹ Bảo lãnh tín dụng đã góp phần tháo gỡ nút thắt về vốn cho DNNVV, song yêu cầu phải có tài sản thế chấp bằng ít nhất 15% giá trị các khoản vay vẫn là thách thức lớn cho DN tiếp cận vốn. Do đó, một trong những vấn đề được đặt lên hàng đầu là thủ tục vay vốn, bởi theo tính toán của Trung tâm OECD, nếu làm giảm thiểu 25% chi phí về thủ tục của các DNNVV, khối này có thể mang về 1% GDP cho mỗi quốc gia.
Việc tạo cơ chế hành chính thuận lợi, phù hợp với năng lực của DNNVV là cần thiết, đặc biệt với các DN có phương án doanh tốt nhưng thiếu vốn để phát triển. Ngoài ra, cần có các cơ chế bảo lãnh một phần tín dụng, đa dạng hóa điều kiện về tài sản thế chấp, mở rộng thêm các kênh huy động vốn…
Theo thoibaokinhdoanh.vn
Theo các chuyên gia, cần có sự đối xử công bằng và gỡ những rào cản về thủ tục pháp lý, yêu cầu về tài sản thế chấp phù hợp với năng lực DNNVV thì mới giúp mở lối tín dụng cho khối này.
Vướng từ thủ tục
Theo ông Andrew Terry - GS. chuyên ngành quy chế kinh doanh thuộc Đại học Sydney (Australia), tại các thị trường mới nổi có đến 45 - 55% DNNVV không tiếp cận được với các khoản vay thế chấp chính thức, đối với các DN siêu nhỏ (hộ gia đình) tỷ lệ này lên đến 65 - 72%. Tuy nhiên, tại Việt Nam, con số này còn đáng lo ngại hơn khi chỉ có 30% DNNVV tiếp cận được vốn vay, còn lại 70% DN phải sử dụng nguồn vốn tự có hoặc vay từ các nguồn khác.
Tiếp cận vốn vay là một trong những rào cản hàng đầu hiện nay mà DNNVV phải đối mặt. Theo ông Cao Sỹ Kiêm - Chủ tịch Hiệp hội DNNVV Việt Nam (VINASME), mặc dù Chính phủ đã triển khai các chính sách, chương trình hỗ trợ vốn cho khối này như bảo lãnh tín dụng, hỗ trợ tín dụng, nhưng trên thực tế chỉ có một số lượng nhỏ DN được thụ hưởng các chính sách này, còn phần lớn gặp khó khăn trong tiếp cận vốn. Điều đáng chú ý là tuy chỉ có một tỷ lệ nhỏ các DNNVV tiếp cận được các nguồn vốn vay từ ngân hàng, song phần nhiều trong số này vẫn phải chịu mức lãi suất cao (từ 15 - 18%).
Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước) cho biết, ngoài các chính sách ưu đãi, hỗ trợ vay vốn nói chung, DNNVV còn được hưởng các chính sách ưu đãi riêng. Theo đó, có khoảng 30% nguồn vốn tín dụng hàng năm chảy vào các DNNVV, song theo đánh giá của các chuyên gia, con số này không "thấm tháp" vào đâu so với nhu cầu phát triển của khối DNNVV.
Việc khó tiếp cận vốn vay, đặc biệt trong giai đoạn khủng hoảng vừa qua càng khiến cho các DNNVV dễ tổn thương hơn, khi số lượng DN giải thể, ngừng hoặc tạm ngưng hoạt động tăng cao. Theo khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), một trong hai nguyên nhân chính khiến cho DN phải ngừng hoạt động là do không tìm được đầu ra sản phẩm và DN không vay được vốn.
Một trong những trở ngại lớn nhất khiến cho DNNVV khó tiếp cận vốn, theo VINASME, là do thủ tục vay, khi có đến 55% DN cho rằng hồ sơ vay vốn phức tạp, yêu cầu quá cao; 50% gặp trở ngại do những yêu cầu về tài sản thế chấp, như thiếu tài sản có giá trị cao để thế chấp, ngân hàng không đa dạng hóa tài sản thế chấp như sử dụng hàng trong kho, các khoản thu…; và có đến 80% DNNVV cho rằng tỷ lệ lãi suất hiện nay chưa phù hợp, điều kiện vay vốn chưa phù hợp với DNNVV. Thực tế này dẫn đến, nhiều DNNVV luôn trong tình trạng thiếu vốn, gây trở ngại lớn cho hoạt động đầu tư sản xuất, kinh doanh, đặc biệt trong giai đoạn khủng hoảng vừa qua, khi DN gặp rất nhiều sức ép về thị trường tiêu thụ, hàng tồn kho tăng cao.
Công bằng với DNNVV
DNNVV có sự phát triển khá nhanh, song ông Kiêm cho rằng do chưa được chuẩn bị một cách đầy đủ về kỹ năng, năng lực và kiến thức kinh doanh, nên việc tiếp cận và sử dụng vốn còn nhiều hạn chế. Còn theo bà Hà Thu Giang - Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, không chỉ tiêu chí xác định DNNVV hiện chưa rõ ràng, thống nhất, gây khó khăn cho tổ chức tín dụng trong thẩm định và áp dụng cơ chế cho vay, mà các chính sách bảo lãnh vốn vay hiện vẫn chưa hiệu quả, khi các thủ tục còn nhiều bất cập, chưa thông thoáng.
Với các tổ chức tín dụng, do chịu áp lực lớn trong trong cân đối nguồn vốn, trong khi việc thẩm định dự án, phương án sản xuất - kinh doanh của DNNVV gặp nhiều khó khăn do quy mô hoạt động nhỏ, sản xuất không ổn định, lại thiếu tài sản thế chấp, nên đây là lý do phổ biến khiến các DN bị từ chối các khoản vay.
Tuy nhiên, ở góc độ khác ông Sergio Arzenri - Giám đốc Trung tâm OECD vì sự phát triển của doanh nhân, DNNVV, lại cho rằng DNNVV hiện đang bị đối xử bất bình đẳng với các DN lớn. Trong khi khối này phải trả thuế gấp 6 lần so với DN lớn, các giao dịch thương mại cũng hiệu quả hơn do tính linh động trong mô hình hoạt động, song phần lớn các ưu đãi, hay cơ chế bảo lãnh tín dụng lại chỉ có các DN lớn được hưởng. Do đó, bên cạnh việc hỗ trợ và nâng cao sức cạnh tranh cho DNNVV để nâng cao hiệu quả sử dụng đồng vốn, ông Sergio cho rằng các chính sách hỗ trợ cần được thực thi và được đo lường hiệu quả tác động, trong đó gỡ nút thắt về tài sản đảm bảo, xử lý các khoản nợ xấu là yêu cầu cần thiết đặt ra hiện nay.
Sự ra đời của Quỹ Bảo lãnh tín dụng đã góp phần tháo gỡ nút thắt về vốn cho DNNVV, song yêu cầu phải có tài sản thế chấp bằng ít nhất 15% giá trị các khoản vay vẫn là thách thức lớn cho DN tiếp cận vốn. Do đó, một trong những vấn đề được đặt lên hàng đầu là thủ tục vay vốn, bởi theo tính toán của Trung tâm OECD, nếu làm giảm thiểu 25% chi phí về thủ tục của các DNNVV, khối này có thể mang về 1% GDP cho mỗi quốc gia.
Việc tạo cơ chế hành chính thuận lợi, phù hợp với năng lực của DNNVV là cần thiết, đặc biệt với các DN có phương án doanh tốt nhưng thiếu vốn để phát triển. Ngoài ra, cần có các cơ chế bảo lãnh một phần tín dụng, đa dạng hóa điều kiện về tài sản thế chấp, mở rộng thêm các kênh huy động vốn…
Theo thoibaokinhdoanh.vn
Phá vòng luẩn quẩn trong cho vay thế chấp hàng hóa
(Vay thế chấp) -
LUẬT SƯ TRẦN MINH HẢI, GIÁM ĐỐC ĐIỀU HÀNH CÔNG TY LUẬT BASICO
Tháng 11/2012, tại một kho hàng thuộc địa bàn xã An Hồng, huyện An Dương, TP. Hải Phòng phát sinh sự kiện tranh chấp xử lý tài sản bảo đảm hàng hóa giữa 7 ngân hàng. Sự việc bắt nguồn từ việc một doanh nghiệp (DN) chuyên kinh doanh vật liệu xây dựng được 7 ngân hàng cùng tài trợ tín dụng trên cơ sở nhận bảo đảm bằng mặt hàng thép tại kho hàng của DN.
Từ một vụ “cướp hàng”…
Thông thường, khi các ngân hàng tài trợ tín dụng cho DN, thì chỉ chấp nhận cho vay tới 60 - 70% giá trị tài sản bảo đảm và giá trị số lượng hàng hóa dùng để bảo đảm luôn lớn hơn giá trị số dư nợ cho vay. Tuy nhiên, gặp khó khăn của tình hình kinh tế vĩ mô, DN mặc dù có uy tín cao với các ngân hàng, nhưng không ít DN lâm vào tình trạng vi phạm, khi mà có ngân hàng đã phát hiện số lượng hàng hóa trong kho hàng bị thiếu hụt, không bảo đảm đủ cho dư nợ cho vay hoặc bị thế chấp để vay nhiều lần.
Trở lại vụ việc nói trên, ngày 8 và 9/11/2012, một ngân hàng lớn thuộc khối quốc doanh đã bố trí 120 xe tải trọng lớn, với đội ngũ khuân vác hùng hậu ngang nhiên vào vận chuyển khoảng 7.000 tấn hàng trên tổng số lượng lưu kho 10.000 tấn hàng ra khỏi kho hàng của 1 DN tại An Dương, Hải Phòng, trước sự chứng kiến bất lực của các ngân hàng bạn. Sau đó, với số hàng ít ỏi còn lại trong kho, các ngân hàng cổ phần họp bàn và tự hỏi nhau cần phải làm gì.
Trong vụ việc này, các ngân hàng bị “cướp hàng” rất bức xúc khi mà việc nhận thế chấp hàng của ngân hàng mình có lập hợp đồng thế chấp, có đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm Đăng ký Quốc gia về giao dịch bảo đảm để xác lập quyền ưu tiên xử lý tài sản, thậm chí có cả khoanh vùng hàng hóa lại, thuê bảo vệ trông giữ 24/24h.
Nhưng thật khó nói ngân hàng quốc doanh kia “cướp hàng”, khi mà họ cũng xuất trình hợp đồng thế chấp hàng của họ với số lượng hàng thế chấp khoảng 7.000 tấn hàng, cũng có đăng ký giao dịch bảo đảm và khi xử lý, họ cũng có quyết định thu giữ tài sản bảo đảm một cách đàng hoàng. Vấn đề là khác với những loại tài sản bảo đảm như nhà đất, ô tô có giấy tờ đăng ký dễ quản lý, dễ xác định, tài sản bảo đảm ở đây là cùng một mặt hàng thép, mà khi đã trộn lẫn vào để thu giữ, thì thép nào chẳng giống thép nào. Cùng một mặt hàng, quản lý trong cùng một kho hàng, thì quả thật không có ranh giới đây là “hàng anh, hàng tôi”. Một khi đã không xác định được ranh giới, thì những giấy tờ chứng nhận đăng ký giao dịch bảo đảm của các ngân hàng có giá trị như… giấy lộn.
… đến sự dè dặt trong cho vay thế chấp bằng hàng hóa
Năm 2011, xảy ra vụ việc 5 ngân hàng trên địa bàn TP. Cần Thơ cùng tranh chấp một kho hàng rỗng của Công ty An Khang, từ đây, các ngân hàng đã phần nào nhận thức rõ rủi ro trong việc cho vay nhận hàng hóa thế chấp. Đây là một sản phẩm cho vay mà các rủi ro khách quan thường xuyên xảy ra ,như hàng hóa khó xác định rõ ràng quyền sở hữu, có thể bị hỏng, bị hủy, bị mất cắp, bị tháo ruột, bị bán cho nhiều người, bị thế chấp trùng cho nhiều ngân hàng, bị gán nợ, bị chủ nợ khác chiếm giữ trên thực tế… Các rủi ro này dẫn đến khó quản lý và nếu xảy ra, sẽ gây ảnh hưởng xấu đến khả năng trả nợ của khách hàng do đây cũng là nguồn lực kinh doanh của khách vay.
Đến cuối năm 2012, hầu hết các ngân hàng đều sợ và từ chối giải ngân cho những khoản vay thế chấp bằng hàng. Lý do thì ai cũng rõ, một công thức cho vay mới hình thành “TC = TC và CC = CC”, có nghĩa là “Thế chấp” bằng “Tín chấp” còn “Cầm cố” bằng “Chắc chắn”. Nhưng để nhận cầm cố được hàng hóa, thì phải có kho hàng riêng của ngân hàng, trong khi không ngân hàng nào đủ lực để làm được điều này. Cũng không thể bắt khách hàng mang hàng hóa sản xuất từ một nơi về thế chấp ở một nơi xa xôi khác, làm phá vỡ logic phân phối kinh doanh.
Nhưng trước áp lực lợi nhuận của ngân hàng và thực tế trước sự sống của DN và nền kinh tế, từ tháng 2/2013, một số ngân hàng thuộc khối quốc doanh tại miền Nam, sau khi “lên dây cót” tinh thần về việc cứ làm, miễn đừng sai sót, vụ lợi cá nhân, đã bắt đầu có dấu hiệu cho vay trở lại với DN trên cơ sở nhận hàng hóa thế chấp, nhất là những DN chuyên doanh sản xuất hàng nông nghiệp. Khối ngân hàng thương mại cổ phần có sự khó khăn hơn trong lựa chọn này, bởi áp lực bảo toàn đồng vốn cao hơn do thuộc tính sở hữu tư nhân và nếu tiếp tục cho vay thế chấp hàng hóa, họ sẽ phải chấp nhận tình trạng như đi bơi trên sông sâu mà khoác một chiếc phao cứu sinh thủng.
“Mở lối vườn hồng", cách nào?
Thực tế đã phản ánh, các DN còn duy trì được hoạt động sản xuất hàng hóa chính là những điểm sáng trong bối cảnh bức tranh kinh tế Việt Nam hiện tại. Việc tài trợ tín dụng và nhận bảo đảm bằng hàng hóa thế chấp vẫn là điều tất yếu đối với các ngân hàng. Vấn đề là tìm lối thoát phá vòng luẩn quẩn trong cho vay thế chấp hàng hóa.
Tại Hội thảo “Những rủi ro và cơ hội phát triển tín dụng nông nghiệp ở Việt Nam” do IFC và World Bank đồng tổ chức mới đây, một chuyên gia nước ngoài đã nêu lên giải pháp, thiết nghĩ có thể trở thành lối thoát hữu hiệu phù hợp với tình hình của Việt Nam. Ở một số nước có nền kinh tế phát triển, một số hãng kho vận uy tín đứng ra làm trung gian gửi giữ hàng hóa. Khi các DN gửi hàng vào kho, họ sẽ được cấp những chứng chỉ ghi nhận thông tin về số lượng, chất lượng, chủng loại và sở hữu về hàng hóa. Các DN có thể đem các chứng chỉ này thế chấp vay vốn tại các ngân hàng. Với độ uy tín cao của hãng kho vận, ngân hàng sẽ mặc nhiên ghi nhận các thông tin để nhận thế chấp hàng hóa mà không nhất thiết phải thẩm định trực tiếp hàng. Khi cần xử lý tài sản bảo đảm, chỉ với chứng chỉ này, ngân hàng cũng có thể bán được hàng hóa với sự hợp tác của hãng kho vận qua các thủ tục pháp lý hợp lý. Với sự phối hợp tổng thể trên, các mắt xích của nền kinh tế được phối hợp nhịp nhàng, giảm bớt các chi phí không cần thiết và giảm thiểu hầu hết các rủi ro thuộc tính của thế chấp hàng hóa.
Ở Việt Nam, đến nay chưa có một hãng kho vận nào đầu tư đủ chiều sâu về uy tín, công nghệ và điều kiện để các ngân hàng tin cậy hợp tác toàn diện trong lĩnh vực này. Lý do gồm các yếu tố cộng hưởng, công nghệ quản trị kho hàng, vốn đầu tư và hành lang pháp lý. Việt Nam thiếu cả ba yếu tố này. Với hai yếu tố đầu tiên, trước tiềm năng dồi dào của thị trường, Việt Nam hoàn toàn có thể kêu gọi những hãng logistic uy tín trên thế giới đầu tư và mở rộng dịch vụ ở Việt Nam, nhưng trước tiên chúng ta cần hoàn thiện hành lang pháp lý đối với lĩnh vực này.
Các vấn đề về điều kiện hoạt động, giới hạn nghiệp vụ, bảo hiểm trách nhiệm, quy chuẩn hoạt động... áp dụng cho các DN kho vận chuyên doanh lĩnh vực này cần được phân định rạch ròi quyền sở hữu hàng hóa, quy trình phối hợp quản lý hàng hóa thế chấp giữa ngân hàng, bên kho vận, bên thế chấp… bằng quy định pháp luật.
Có hành lang pháp lý này, thì “vườn hồng sẽ mở” cho những DN kho vận triển khai nghiệp vụ kinh doanh quản lý hàng hóa thế chấp tại Việt Nam, tạo nên sự kinh doanh chuyên biệt và qua đó cũng góp phần quản trị tốt các rủi ro của việc nhận hàng hóa thế chấp đối với các ngân hàng.
Đây chỉ là một trong các giải pháp tạo lối ra cho hoạt động cho vay nhận thế chấp hàng hóa của các ngân hàng, nhằm thúc đẩy sự tăng trưởng trở lại của hoạt động sản xuất trong nền kinh tế. Thực tế không thiếu các phương án, mà điều cần là sự thực thi một trong các phương án khả thi.
Theo Đầu tư Chứng khoán
Tháng 11/2012, tại một kho hàng thuộc địa bàn xã An Hồng, huyện An Dương, TP. Hải Phòng phát sinh sự kiện tranh chấp xử lý tài sản bảo đảm hàng hóa giữa 7 ngân hàng. Sự việc bắt nguồn từ việc một doanh nghiệp (DN) chuyên kinh doanh vật liệu xây dựng được 7 ngân hàng cùng tài trợ tín dụng trên cơ sở nhận bảo đảm bằng mặt hàng thép tại kho hàng của DN.
Từ một vụ “cướp hàng”…
Thông thường, khi các ngân hàng tài trợ tín dụng cho DN, thì chỉ chấp nhận cho vay tới 60 - 70% giá trị tài sản bảo đảm và giá trị số lượng hàng hóa dùng để bảo đảm luôn lớn hơn giá trị số dư nợ cho vay. Tuy nhiên, gặp khó khăn của tình hình kinh tế vĩ mô, DN mặc dù có uy tín cao với các ngân hàng, nhưng không ít DN lâm vào tình trạng vi phạm, khi mà có ngân hàng đã phát hiện số lượng hàng hóa trong kho hàng bị thiếu hụt, không bảo đảm đủ cho dư nợ cho vay hoặc bị thế chấp để vay nhiều lần.
Trở lại vụ việc nói trên, ngày 8 và 9/11/2012, một ngân hàng lớn thuộc khối quốc doanh đã bố trí 120 xe tải trọng lớn, với đội ngũ khuân vác hùng hậu ngang nhiên vào vận chuyển khoảng 7.000 tấn hàng trên tổng số lượng lưu kho 10.000 tấn hàng ra khỏi kho hàng của 1 DN tại An Dương, Hải Phòng, trước sự chứng kiến bất lực của các ngân hàng bạn. Sau đó, với số hàng ít ỏi còn lại trong kho, các ngân hàng cổ phần họp bàn và tự hỏi nhau cần phải làm gì.
Trong vụ việc này, các ngân hàng bị “cướp hàng” rất bức xúc khi mà việc nhận thế chấp hàng của ngân hàng mình có lập hợp đồng thế chấp, có đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm Đăng ký Quốc gia về giao dịch bảo đảm để xác lập quyền ưu tiên xử lý tài sản, thậm chí có cả khoanh vùng hàng hóa lại, thuê bảo vệ trông giữ 24/24h.
Nhưng thật khó nói ngân hàng quốc doanh kia “cướp hàng”, khi mà họ cũng xuất trình hợp đồng thế chấp hàng của họ với số lượng hàng thế chấp khoảng 7.000 tấn hàng, cũng có đăng ký giao dịch bảo đảm và khi xử lý, họ cũng có quyết định thu giữ tài sản bảo đảm một cách đàng hoàng. Vấn đề là khác với những loại tài sản bảo đảm như nhà đất, ô tô có giấy tờ đăng ký dễ quản lý, dễ xác định, tài sản bảo đảm ở đây là cùng một mặt hàng thép, mà khi đã trộn lẫn vào để thu giữ, thì thép nào chẳng giống thép nào. Cùng một mặt hàng, quản lý trong cùng một kho hàng, thì quả thật không có ranh giới đây là “hàng anh, hàng tôi”. Một khi đã không xác định được ranh giới, thì những giấy tờ chứng nhận đăng ký giao dịch bảo đảm của các ngân hàng có giá trị như… giấy lộn.
… đến sự dè dặt trong cho vay thế chấp bằng hàng hóa
Năm 2011, xảy ra vụ việc 5 ngân hàng trên địa bàn TP. Cần Thơ cùng tranh chấp một kho hàng rỗng của Công ty An Khang, từ đây, các ngân hàng đã phần nào nhận thức rõ rủi ro trong việc cho vay nhận hàng hóa thế chấp. Đây là một sản phẩm cho vay mà các rủi ro khách quan thường xuyên xảy ra ,như hàng hóa khó xác định rõ ràng quyền sở hữu, có thể bị hỏng, bị hủy, bị mất cắp, bị tháo ruột, bị bán cho nhiều người, bị thế chấp trùng cho nhiều ngân hàng, bị gán nợ, bị chủ nợ khác chiếm giữ trên thực tế… Các rủi ro này dẫn đến khó quản lý và nếu xảy ra, sẽ gây ảnh hưởng xấu đến khả năng trả nợ của khách hàng do đây cũng là nguồn lực kinh doanh của khách vay.
Đến cuối năm 2012, hầu hết các ngân hàng đều sợ và từ chối giải ngân cho những khoản vay thế chấp bằng hàng. Lý do thì ai cũng rõ, một công thức cho vay mới hình thành “TC = TC và CC = CC”, có nghĩa là “Thế chấp” bằng “Tín chấp” còn “Cầm cố” bằng “Chắc chắn”. Nhưng để nhận cầm cố được hàng hóa, thì phải có kho hàng riêng của ngân hàng, trong khi không ngân hàng nào đủ lực để làm được điều này. Cũng không thể bắt khách hàng mang hàng hóa sản xuất từ một nơi về thế chấp ở một nơi xa xôi khác, làm phá vỡ logic phân phối kinh doanh.
Nhưng trước áp lực lợi nhuận của ngân hàng và thực tế trước sự sống của DN và nền kinh tế, từ tháng 2/2013, một số ngân hàng thuộc khối quốc doanh tại miền Nam, sau khi “lên dây cót” tinh thần về việc cứ làm, miễn đừng sai sót, vụ lợi cá nhân, đã bắt đầu có dấu hiệu cho vay trở lại với DN trên cơ sở nhận hàng hóa thế chấp, nhất là những DN chuyên doanh sản xuất hàng nông nghiệp. Khối ngân hàng thương mại cổ phần có sự khó khăn hơn trong lựa chọn này, bởi áp lực bảo toàn đồng vốn cao hơn do thuộc tính sở hữu tư nhân và nếu tiếp tục cho vay thế chấp hàng hóa, họ sẽ phải chấp nhận tình trạng như đi bơi trên sông sâu mà khoác một chiếc phao cứu sinh thủng.
“Mở lối vườn hồng", cách nào?
Thực tế đã phản ánh, các DN còn duy trì được hoạt động sản xuất hàng hóa chính là những điểm sáng trong bối cảnh bức tranh kinh tế Việt Nam hiện tại. Việc tài trợ tín dụng và nhận bảo đảm bằng hàng hóa thế chấp vẫn là điều tất yếu đối với các ngân hàng. Vấn đề là tìm lối thoát phá vòng luẩn quẩn trong cho vay thế chấp hàng hóa.
Tại Hội thảo “Những rủi ro và cơ hội phát triển tín dụng nông nghiệp ở Việt Nam” do IFC và World Bank đồng tổ chức mới đây, một chuyên gia nước ngoài đã nêu lên giải pháp, thiết nghĩ có thể trở thành lối thoát hữu hiệu phù hợp với tình hình của Việt Nam. Ở một số nước có nền kinh tế phát triển, một số hãng kho vận uy tín đứng ra làm trung gian gửi giữ hàng hóa. Khi các DN gửi hàng vào kho, họ sẽ được cấp những chứng chỉ ghi nhận thông tin về số lượng, chất lượng, chủng loại và sở hữu về hàng hóa. Các DN có thể đem các chứng chỉ này thế chấp vay vốn tại các ngân hàng. Với độ uy tín cao của hãng kho vận, ngân hàng sẽ mặc nhiên ghi nhận các thông tin để nhận thế chấp hàng hóa mà không nhất thiết phải thẩm định trực tiếp hàng. Khi cần xử lý tài sản bảo đảm, chỉ với chứng chỉ này, ngân hàng cũng có thể bán được hàng hóa với sự hợp tác của hãng kho vận qua các thủ tục pháp lý hợp lý. Với sự phối hợp tổng thể trên, các mắt xích của nền kinh tế được phối hợp nhịp nhàng, giảm bớt các chi phí không cần thiết và giảm thiểu hầu hết các rủi ro thuộc tính của thế chấp hàng hóa.
Ở Việt Nam, đến nay chưa có một hãng kho vận nào đầu tư đủ chiều sâu về uy tín, công nghệ và điều kiện để các ngân hàng tin cậy hợp tác toàn diện trong lĩnh vực này. Lý do gồm các yếu tố cộng hưởng, công nghệ quản trị kho hàng, vốn đầu tư và hành lang pháp lý. Việt Nam thiếu cả ba yếu tố này. Với hai yếu tố đầu tiên, trước tiềm năng dồi dào của thị trường, Việt Nam hoàn toàn có thể kêu gọi những hãng logistic uy tín trên thế giới đầu tư và mở rộng dịch vụ ở Việt Nam, nhưng trước tiên chúng ta cần hoàn thiện hành lang pháp lý đối với lĩnh vực này.
Các vấn đề về điều kiện hoạt động, giới hạn nghiệp vụ, bảo hiểm trách nhiệm, quy chuẩn hoạt động... áp dụng cho các DN kho vận chuyên doanh lĩnh vực này cần được phân định rạch ròi quyền sở hữu hàng hóa, quy trình phối hợp quản lý hàng hóa thế chấp giữa ngân hàng, bên kho vận, bên thế chấp… bằng quy định pháp luật.
Có hành lang pháp lý này, thì “vườn hồng sẽ mở” cho những DN kho vận triển khai nghiệp vụ kinh doanh quản lý hàng hóa thế chấp tại Việt Nam, tạo nên sự kinh doanh chuyên biệt và qua đó cũng góp phần quản trị tốt các rủi ro của việc nhận hàng hóa thế chấp đối với các ngân hàng.
Đây chỉ là một trong các giải pháp tạo lối ra cho hoạt động cho vay nhận thế chấp hàng hóa của các ngân hàng, nhằm thúc đẩy sự tăng trưởng trở lại của hoạt động sản xuất trong nền kinh tế. Thực tế không thiếu các phương án, mà điều cần là sự thực thi một trong các phương án khả thi.
Theo Đầu tư Chứng khoán
Thế chấp hàng hóa, ngân hàng bại trận vì “khiên thủng”
(Vay thế chấp) -
(Tài chính) Năm 2013, ngành ngân hàng đón nhận những hậu quả nặng nề nhất, tổn thất nhất và liên tiếp nhất từ một sản phẩm cho vay truyền thống, cho vay thế chấp hàng hóa. Vụ cưỡng chế kho hàng của Công ty TNHH Trường Ngân cũng như những lùm xùm quanh việc tranh kho hàng của 7 ngân hàng đã cho doanh nghiệp (DN) này vay vốn là vụ thất thoát tiền bạc lớn đối với ngân hàng trong sản phẩm cho vay hàng hóa cuối cùng khép lại năm 2013, sau hàng loạt vụ mất vốn đến hàng trăm tỷ đồng của ngành ngân hàng khi cho vay thế chấp tại các DN như Thép Âu Mỹ, Công Chính Thái Nguyên…
Rủi ro từ bản chất sản phẩm
Đối với các DN sản xuất, tài sản quan trọng nhất chính là hàng hóa, thành phẩm, bán thành phẩm hoặc nguyên liệu. Khi ngân hàng cho vay các DN sản xuất thì tài sản bảo đảm chủ yếu là hàng hóa trong kho được hình thành từ chính nguồn vốn vay.
Để đáp ứng quy mô vốn lưu động lớn, DN thường đi vay nhiều ngân hàng và từ đó, có nhiều nguồn hàng hóa khác nhau hình thành từ nguồn vốn tín dụng của nhiều ngân hàng khác nhau. DN có quyền sử dụng hàng hóa hình thành từ vốn vay của ngân hàng để làm tài sản bảo đảm. Cũng chính từ đây, một kho hàng có thể có nhiều hàng hóa là tài sản bảo đảm của nhiều ngân hàng khác nhau. Như vậy, một kho hàng thường được sử dụng để thế chấp cho vài ngân hàng là chuyện rất phổ biến, mà các vụ ngân hàng tranh chấp kho hàng của DN xảy ra thời gian qua là minh chứng rõ nhất cho điều này.
Rất nhiều rủi ro ngân hàng đã gặp phải khi cho vay thế chấp kho hàng. Ví dụ, hàng hóa bị thiếu hụt, bị rút ruột, không đảm bảo số lượng ban đầu hay nguy cơ thế chấp trùng, hàng hóa để trong kho bị trùng lẫn. Rõ ràng, đây là sản phẩm cho vay tiềm ẩn quá nhiều rủi ro, nhưng vì những logic kinh doanh, ngân hàng vẫn không thể không cho vay.
Trọng tâm quản lý rủi ro sai lầm
Hậu quả đã phát sinh từ những rủi ro nội tại của sản phẩm, nhưng bên cạnh đó còn có một nguyên nhân trọng yếu là nhận thức sai lầm của các ngân hàng. Một thời gian dài, từ cán bộ đến lãnh đạo ngân hàng đã sai lầm trong việc quyết định đâu là trọng điểm quản lý rủi ro trong quan hệ với DN.
Mọi DN đi vay với tài sản bảo đảm là hàng hóa đều là DN sản xuất. Vậy dữ liệu thực sự về năng lực tài chính của khách hàng có khó xác định không? Xin nhấn mạnh là điều này không nằm ngoài tầm khả năng của ngân hàng. Ví dụ, ngân hàng hoàn toàn có thể xác định lượng hàng tồn kho, nhu cầu hạn mức tín dụng phục vụ cho quy mô thực tại của DN. Một khi cán bộ tín dụng thực hiện nghiêm túc công việc thẩm định khách hàng thì hiện tượng cùng một kho hàng thế chấp nhiều nơi là không thể.
Nhìn lại các DN thời gian qua lâm vào khủng hoảng, phá sản thì hầu như đều có chung đặc điểm là có sự lệch nguồn về cơ cấu vay nợ từ ngân hàng, trong đó rất nhiều DN dùng vốn ngắn hạn đầu tư trung, dài hạn như bất động sản, đầu tư tăng trưởng máy móc thiết bị nhà xưởng của lĩnh vực ngành nghề khác. Ngân hàng không thể nói là không biết việc DN sử dụng vốn sai mục đích, vấn đề là ngân hàng biết nhưng lại để mặc, thậm chí do chính sách chung của cả ngành ngân hàng đã giúp khách hàng đảo nợ mà đảo nợ vừa gây khó khăn cho ngân hàng vừa làm xấu thực trạng các khoản nợ.
Việc ngân hàng dựa vào số liệu ảo, mà lờ đi thực trạng thật có nhiều lý do.
Thứ nhất là do giai đoạn thẩm định, phê duyệt cho vay, ngân hàng chỉ chú trọng đến hóa đơn chứng từ và lời khai của khách hàng, mà không thẩm định thực tế tài sản cũng như hoạt động của DN.
Thứ hai là lỗi ở quy trình. Chính sách quản lý rủi ro chung của ngành ngân hàng thiếu sự minh bạch, dẫn đến khách hàng có thể che giấu thông qua hoạt động đảo nợ, thậm chí có sự giúp sức hoặc yêu cầu bắt buộc từ phía ngân hàng. Nhiều khi DN “xin” ngân hàng được gia hạn nợ hoặc là để ngân hàng thu hồi nợ trước hạn, nhưng vì ngân hàng không muốn làm xấu tình trạng tài chính của mình, bởi gia hạn nợ là thừa nhận một khách hàng “xấu”, đã không chấp nhận mà buộc DN phải đảo nợ.
Thực trạng phổ biến là, ngân hàng chấp nhận tiếp tục cho vay theo khế ước mới với số tiền đúng bằng số tiền nợ đến hạn. Nhưng trước khi được giải ngân, DN phải vay trên thị trường “đen” với lãi suất cắt cổ, trả nợ khế ước trước đó rồi mới được vay tiếp. Như vậy, thực chất, DN không hề được vay thêm mà còn phải chịu áp lực trả lãi trên thị trường “đen”.
Sự che giấu tình hình tín dụng đã làm hỏng cả hệ thống ngân hàng suốt thời gian qua. Thực tế, với việc đảo nợ, DN không được gì mà chỉ mất thêm tiền và thị trường tín dụng “đen” càng phát triển.
Đặt trọng tâm sai, nên chính sách quản lý rủi ro sai. Nếu đặt trọng tâm vào chứng từ thì chỉ có con số ảo, còn đặt trọng tâm vào thực tế thì sẽ có quy trình quản lý rủi ro thực chất. Sự đảm bảo khi cho vay nếu chỉ dựa vào hàng hóa là không ổn, mà phải dựa trên cơ sở sự minh bạch về thông tin thực sự của DN.
Hàng lang pháp lý không hiệu quả
Một yếu tố góp phần tạo nên khủng hoàng thế chấp hàng hóa, đó chính là hành lang pháp lý hỗ trợ cho ngân hàng và DN.
Khi ngân hàng nhận tài sản bảo đảm thì trải qua nhiều thủ tục liên quan như công chứng hợp đồng, xác nhận tính xác thực giao dịch giữa ngân hàng và bên bảo đảm, thể hiện khẳng định tính khách quan, tự nguyện giao kết của một giao dịch và được Nhà nước mặc nhiên công nhận. Thủ tục đăng ký giao dịch đảm bảo còn quan trọng hơn khi xác định đến ngày, giờ, phút, giây thứ tự ưu tiên khi một tài sản được dùng để bảo đảm cho nhiều chủ nợ.
Với những quy định như vậy, ngành ngân hàng và DN yên chí là đang đi trong hệ thống hành lang pháp luật bảo hộ rõ ràng, chuẩn mực và khi xảy ra vấn đề lấy căn cứ, ngưỡng pháp lý để làm căn cứ chứng minh phân định. Nhưng thực tế các vụ tranh chấp hàng hóa trong kho cho thấy các hành lang pháp lý này đều đã phá sản.
Hàng năm, ngân hàng đều phải chi rất nhiều tiền cho hoạt động công chứng, đăng ký giao dịch bảo đảm và gánh nặng này đều đặt lên vai DN. Vậy việc công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm đem lại giá trị gì cho cả ngân hàng và DN?
Giải pháp nào để yên tâm tài trợ vốn cho sản xuất?
Mặc dù còn lúng túng nhưng mỗi ngân hàng đều đưa ra giải pháp để hạn chế rủi ro từ sản phẩm cho vay thế chấp hàng tồn kho luân chuyển. Giải pháp đầu tiên là chuyển từ biện pháp thế chấp sang biện pháp cầm cố, tức là hàng hóa là tài sản bảo đảm được quản lý ngay tại kho của ngân hàng, hoặc kho mà ngân hàng đứng ra thuê.
Bên cạnh đó, ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng trong việc lựa chọn quan hệ với ngân hàng khác. Các DN nhìn chung sẽ có quan hệ mật thiết với một ngân hàng nào đó và ngân hàng này hoàn toàn có thể yêu cầu khách hàng lựa chọn ngân hàng tiếp theo để đặt quan hệ tín dụng, qua đó, hình thành nhóm ngân hàng, để sau này có sự phối hợp, liên kết khi xử lý tài sản bảo đảm.
Ngân hàng cũng cần yêu cầu DN hợp tác, phân loại hàng hóa theo từng thể loại, có hàng tách theo lô (nếu có thể) và xem xét lại chính sách kho vận để đảm bảo an toàn tuyệt đối. Với nguyên liệu, bán thành phẩm không có sự lựa chọn nào khác là phải để trong kho, xưởng, do đó, chính sách quản trị rủi ro nên coi hàng hóa là tín chấp, để từ đó bám sát mọi tình hình hoạt động DN.
Không chỉ thế, hệ thống pháp luật cần trao cho ngân hàng quyền sở hữu tạm thời trong thời gian thế chấp. Có như vậy mới dễ dàng xác định tình trạng tài sản bảo đảm, thay vì thứ tự ưu tiên của đăng ký giao dịch bảo đảm. Kết hợp với những giải pháp nêu trên, trong đó, có việc yêu cầu DN lựa chọn nhóm ngân hàng tin cậy để quan hệ tín dụng, khi đó, ngân hàng đầu tiên nhận tài sản bảo đảm có quyền sở hữu và ngân hàng thứ hai, thứ ba mặc nhiên vô hiệu nếu như không được ngân hàng thứ nhất chấp nhận, tương tự như cơ chế đối với việc thế chấp bất động sản.
Theo tinnhanhchungkhoan.vn
Rủi ro từ bản chất sản phẩm
Đối với các DN sản xuất, tài sản quan trọng nhất chính là hàng hóa, thành phẩm, bán thành phẩm hoặc nguyên liệu. Khi ngân hàng cho vay các DN sản xuất thì tài sản bảo đảm chủ yếu là hàng hóa trong kho được hình thành từ chính nguồn vốn vay.
Để đáp ứng quy mô vốn lưu động lớn, DN thường đi vay nhiều ngân hàng và từ đó, có nhiều nguồn hàng hóa khác nhau hình thành từ nguồn vốn tín dụng của nhiều ngân hàng khác nhau. DN có quyền sử dụng hàng hóa hình thành từ vốn vay của ngân hàng để làm tài sản bảo đảm. Cũng chính từ đây, một kho hàng có thể có nhiều hàng hóa là tài sản bảo đảm của nhiều ngân hàng khác nhau. Như vậy, một kho hàng thường được sử dụng để thế chấp cho vài ngân hàng là chuyện rất phổ biến, mà các vụ ngân hàng tranh chấp kho hàng của DN xảy ra thời gian qua là minh chứng rõ nhất cho điều này.
Rất nhiều rủi ro ngân hàng đã gặp phải khi cho vay thế chấp kho hàng. Ví dụ, hàng hóa bị thiếu hụt, bị rút ruột, không đảm bảo số lượng ban đầu hay nguy cơ thế chấp trùng, hàng hóa để trong kho bị trùng lẫn. Rõ ràng, đây là sản phẩm cho vay tiềm ẩn quá nhiều rủi ro, nhưng vì những logic kinh doanh, ngân hàng vẫn không thể không cho vay.
Trọng tâm quản lý rủi ro sai lầm
Hậu quả đã phát sinh từ những rủi ro nội tại của sản phẩm, nhưng bên cạnh đó còn có một nguyên nhân trọng yếu là nhận thức sai lầm của các ngân hàng. Một thời gian dài, từ cán bộ đến lãnh đạo ngân hàng đã sai lầm trong việc quyết định đâu là trọng điểm quản lý rủi ro trong quan hệ với DN.
Mọi DN đi vay với tài sản bảo đảm là hàng hóa đều là DN sản xuất. Vậy dữ liệu thực sự về năng lực tài chính của khách hàng có khó xác định không? Xin nhấn mạnh là điều này không nằm ngoài tầm khả năng của ngân hàng. Ví dụ, ngân hàng hoàn toàn có thể xác định lượng hàng tồn kho, nhu cầu hạn mức tín dụng phục vụ cho quy mô thực tại của DN. Một khi cán bộ tín dụng thực hiện nghiêm túc công việc thẩm định khách hàng thì hiện tượng cùng một kho hàng thế chấp nhiều nơi là không thể.
Nhìn lại các DN thời gian qua lâm vào khủng hoảng, phá sản thì hầu như đều có chung đặc điểm là có sự lệch nguồn về cơ cấu vay nợ từ ngân hàng, trong đó rất nhiều DN dùng vốn ngắn hạn đầu tư trung, dài hạn như bất động sản, đầu tư tăng trưởng máy móc thiết bị nhà xưởng của lĩnh vực ngành nghề khác. Ngân hàng không thể nói là không biết việc DN sử dụng vốn sai mục đích, vấn đề là ngân hàng biết nhưng lại để mặc, thậm chí do chính sách chung của cả ngành ngân hàng đã giúp khách hàng đảo nợ mà đảo nợ vừa gây khó khăn cho ngân hàng vừa làm xấu thực trạng các khoản nợ.
Việc ngân hàng dựa vào số liệu ảo, mà lờ đi thực trạng thật có nhiều lý do.
Thứ nhất là do giai đoạn thẩm định, phê duyệt cho vay, ngân hàng chỉ chú trọng đến hóa đơn chứng từ và lời khai của khách hàng, mà không thẩm định thực tế tài sản cũng như hoạt động của DN.
Thứ hai là lỗi ở quy trình. Chính sách quản lý rủi ro chung của ngành ngân hàng thiếu sự minh bạch, dẫn đến khách hàng có thể che giấu thông qua hoạt động đảo nợ, thậm chí có sự giúp sức hoặc yêu cầu bắt buộc từ phía ngân hàng. Nhiều khi DN “xin” ngân hàng được gia hạn nợ hoặc là để ngân hàng thu hồi nợ trước hạn, nhưng vì ngân hàng không muốn làm xấu tình trạng tài chính của mình, bởi gia hạn nợ là thừa nhận một khách hàng “xấu”, đã không chấp nhận mà buộc DN phải đảo nợ.
Thực trạng phổ biến là, ngân hàng chấp nhận tiếp tục cho vay theo khế ước mới với số tiền đúng bằng số tiền nợ đến hạn. Nhưng trước khi được giải ngân, DN phải vay trên thị trường “đen” với lãi suất cắt cổ, trả nợ khế ước trước đó rồi mới được vay tiếp. Như vậy, thực chất, DN không hề được vay thêm mà còn phải chịu áp lực trả lãi trên thị trường “đen”.
Sự che giấu tình hình tín dụng đã làm hỏng cả hệ thống ngân hàng suốt thời gian qua. Thực tế, với việc đảo nợ, DN không được gì mà chỉ mất thêm tiền và thị trường tín dụng “đen” càng phát triển.
Đặt trọng tâm sai, nên chính sách quản lý rủi ro sai. Nếu đặt trọng tâm vào chứng từ thì chỉ có con số ảo, còn đặt trọng tâm vào thực tế thì sẽ có quy trình quản lý rủi ro thực chất. Sự đảm bảo khi cho vay nếu chỉ dựa vào hàng hóa là không ổn, mà phải dựa trên cơ sở sự minh bạch về thông tin thực sự của DN.
Hàng lang pháp lý không hiệu quả
Một yếu tố góp phần tạo nên khủng hoàng thế chấp hàng hóa, đó chính là hành lang pháp lý hỗ trợ cho ngân hàng và DN.
Khi ngân hàng nhận tài sản bảo đảm thì trải qua nhiều thủ tục liên quan như công chứng hợp đồng, xác nhận tính xác thực giao dịch giữa ngân hàng và bên bảo đảm, thể hiện khẳng định tính khách quan, tự nguyện giao kết của một giao dịch và được Nhà nước mặc nhiên công nhận. Thủ tục đăng ký giao dịch đảm bảo còn quan trọng hơn khi xác định đến ngày, giờ, phút, giây thứ tự ưu tiên khi một tài sản được dùng để bảo đảm cho nhiều chủ nợ.
Với những quy định như vậy, ngành ngân hàng và DN yên chí là đang đi trong hệ thống hành lang pháp luật bảo hộ rõ ràng, chuẩn mực và khi xảy ra vấn đề lấy căn cứ, ngưỡng pháp lý để làm căn cứ chứng minh phân định. Nhưng thực tế các vụ tranh chấp hàng hóa trong kho cho thấy các hành lang pháp lý này đều đã phá sản.
Hàng năm, ngân hàng đều phải chi rất nhiều tiền cho hoạt động công chứng, đăng ký giao dịch bảo đảm và gánh nặng này đều đặt lên vai DN. Vậy việc công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm đem lại giá trị gì cho cả ngân hàng và DN?
Giải pháp nào để yên tâm tài trợ vốn cho sản xuất?
Mặc dù còn lúng túng nhưng mỗi ngân hàng đều đưa ra giải pháp để hạn chế rủi ro từ sản phẩm cho vay thế chấp hàng tồn kho luân chuyển. Giải pháp đầu tiên là chuyển từ biện pháp thế chấp sang biện pháp cầm cố, tức là hàng hóa là tài sản bảo đảm được quản lý ngay tại kho của ngân hàng, hoặc kho mà ngân hàng đứng ra thuê.
Bên cạnh đó, ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng trong việc lựa chọn quan hệ với ngân hàng khác. Các DN nhìn chung sẽ có quan hệ mật thiết với một ngân hàng nào đó và ngân hàng này hoàn toàn có thể yêu cầu khách hàng lựa chọn ngân hàng tiếp theo để đặt quan hệ tín dụng, qua đó, hình thành nhóm ngân hàng, để sau này có sự phối hợp, liên kết khi xử lý tài sản bảo đảm.
Ngân hàng cũng cần yêu cầu DN hợp tác, phân loại hàng hóa theo từng thể loại, có hàng tách theo lô (nếu có thể) và xem xét lại chính sách kho vận để đảm bảo an toàn tuyệt đối. Với nguyên liệu, bán thành phẩm không có sự lựa chọn nào khác là phải để trong kho, xưởng, do đó, chính sách quản trị rủi ro nên coi hàng hóa là tín chấp, để từ đó bám sát mọi tình hình hoạt động DN.
Không chỉ thế, hệ thống pháp luật cần trao cho ngân hàng quyền sở hữu tạm thời trong thời gian thế chấp. Có như vậy mới dễ dàng xác định tình trạng tài sản bảo đảm, thay vì thứ tự ưu tiên của đăng ký giao dịch bảo đảm. Kết hợp với những giải pháp nêu trên, trong đó, có việc yêu cầu DN lựa chọn nhóm ngân hàng tin cậy để quan hệ tín dụng, khi đó, ngân hàng đầu tiên nhận tài sản bảo đảm có quyền sở hữu và ngân hàng thứ hai, thứ ba mặc nhiên vô hiệu nếu như không được ngân hàng thứ nhất chấp nhận, tương tự như cơ chế đối với việc thế chấp bất động sản.
Theo tinnhanhchungkhoan.vn
Đào tạo về cho vay thế chấp là tài sản trí tuệ
(Vay thế chấp) -
(Taichinh) - Cho vay vốn với tài sản đảm bảo (TSĐB) là tài sản sở hữu trí tuệ đã được triển khai ở nhiều quốc gia trên thế giới từ lâu. Tuy nhiên tại Việt Nam, đây là hình thức khá mới và chưa phổ biến.
Nhằm cung cấp các kiến thức và kinh nghiệm về tài trợ vốn có bảo đảm bằng tài sản trí tuệ, từ đó giúp các NHTM tự tin hơn để triển khai và phát triển tài trợ vốn có bảo đảm bằng tài sản trí tuệ ở Việt Nam, góp phần tăng trưởng tín dụng và tạo cơ hội tiếp cận vốn cho các DNNVV, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) phối hợp với Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) - thành viên của Nhóm Ngân hàng Thế giới trong 2 ngày 4-5/5 đã tổ chức khóa đào tạo quốc tế về chủ đề này.
Chia sẻ tại khóa học, bà Trần Thị Hồng Hạnh, Tổng thư ký VNBA cho biết, các loại TSĐB cho khoản vay hiện nay thường là bất động sản nhưng trong bối cảnh thị trường bất động sản vẫn đang khó khăn và nhiều khuôn khổ pháp lý cũng đang gây khó khăn cho các ngân hàng trong việc thu hồi nợ, gây ra không ít rủi ro cho các ngân hàng.
Trong bối cảnh đó, để giảm rủi ro, tài trợ vốn có bảo đảm bằng động sản và tài sản trí tuệ được xem là giải pháp hiệu quả đối với các NHTM, qua đó tạo động lực để thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN, đặc biệt là các DNNVV.
Theo bà Xuan-Thao Nguyen, Giáo sư Luật, chuyên gia về giao dịch bảo đảm, Trường Đại học Luật Mc Kinney và Trường Tổng hợp Indiana (Mỹ), tài trợ vốn có bảo đảm là tài sản sở hữu trí tuệ đã được các ngân hàng ở Mỹ triển khai từ cách đây khoảng 2 thế kỷ và đang đem lại nhiều thành công.
Do đó tại Việt Nam, cho vay theo hình thức này cũng hoàn toàn có thể thành công nếu các ngân hàng thực sự bắt tay vào triển khai trong khi các DN thực sự hiểu được các tài sản trí tuệ của mình, đồng thời hệ thống khuân khổ pháp luật liên quan tiếp tục được hoàn thiện.
Đặc biệt, chuyên gia này cho rằng, do có lợi thế là nước đi sau nên các NHTM Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia đã triển khai để từ đó áp dụng thành công vào thực tế cho vay tại ngân hàng mình.
Cũng trong hai ngày đào tạo, các thành viên tham gia đã được nghe các chuyên gia trình bày về kinh nghiệm tài trợ vốn có bảo đảm bằng tài sản trí tuệ của Ngân hàng Silicon Valley Bank; các kinh nghiệm tiến hành định giá tài sản trí tuệ độc lập; khung pháp lý cho hoạt động tài trợ vốn có bảo đảm bằng tài sản trí tuệ ở Việt Nam hiện nay và các khuyến nghị về phát triển lĩnh vực vốn có bảo đảm bằng tài sản trí tuệ ở thị trường Việt Nam trong thời gian tới.
Theo thoibaonganhang.vn
Nhằm cung cấp các kiến thức và kinh nghiệm về tài trợ vốn có bảo đảm bằng tài sản trí tuệ, từ đó giúp các NHTM tự tin hơn để triển khai và phát triển tài trợ vốn có bảo đảm bằng tài sản trí tuệ ở Việt Nam, góp phần tăng trưởng tín dụng và tạo cơ hội tiếp cận vốn cho các DNNVV, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) phối hợp với Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) - thành viên của Nhóm Ngân hàng Thế giới trong 2 ngày 4-5/5 đã tổ chức khóa đào tạo quốc tế về chủ đề này.
Chia sẻ tại khóa học, bà Trần Thị Hồng Hạnh, Tổng thư ký VNBA cho biết, các loại TSĐB cho khoản vay hiện nay thường là bất động sản nhưng trong bối cảnh thị trường bất động sản vẫn đang khó khăn và nhiều khuôn khổ pháp lý cũng đang gây khó khăn cho các ngân hàng trong việc thu hồi nợ, gây ra không ít rủi ro cho các ngân hàng.
Trong bối cảnh đó, để giảm rủi ro, tài trợ vốn có bảo đảm bằng động sản và tài sản trí tuệ được xem là giải pháp hiệu quả đối với các NHTM, qua đó tạo động lực để thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN, đặc biệt là các DNNVV.
Theo bà Xuan-Thao Nguyen, Giáo sư Luật, chuyên gia về giao dịch bảo đảm, Trường Đại học Luật Mc Kinney và Trường Tổng hợp Indiana (Mỹ), tài trợ vốn có bảo đảm là tài sản sở hữu trí tuệ đã được các ngân hàng ở Mỹ triển khai từ cách đây khoảng 2 thế kỷ và đang đem lại nhiều thành công.
Do đó tại Việt Nam, cho vay theo hình thức này cũng hoàn toàn có thể thành công nếu các ngân hàng thực sự bắt tay vào triển khai trong khi các DN thực sự hiểu được các tài sản trí tuệ của mình, đồng thời hệ thống khuân khổ pháp luật liên quan tiếp tục được hoàn thiện.
Đặc biệt, chuyên gia này cho rằng, do có lợi thế là nước đi sau nên các NHTM Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia đã triển khai để từ đó áp dụng thành công vào thực tế cho vay tại ngân hàng mình.
Cũng trong hai ngày đào tạo, các thành viên tham gia đã được nghe các chuyên gia trình bày về kinh nghiệm tài trợ vốn có bảo đảm bằng tài sản trí tuệ của Ngân hàng Silicon Valley Bank; các kinh nghiệm tiến hành định giá tài sản trí tuệ độc lập; khung pháp lý cho hoạt động tài trợ vốn có bảo đảm bằng tài sản trí tuệ ở Việt Nam hiện nay và các khuyến nghị về phát triển lĩnh vực vốn có bảo đảm bằng tài sản trí tuệ ở thị trường Việt Nam trong thời gian tới.
Theo thoibaonganhang.vn
Thứ Năm, 4 tháng 6, 2015
Thế chấp nhà chưa có sổ hồng
(Vay thế chấp) -
Hỏi: - Tôi mua nhà chung cư, có hợp đồng mua bán nhưng chưa làm được sổ hồng. Nay, tôi cần vốn làm ăn, muốn vay thế chấp nhà cho ngân hàng để vay vốn có được không?
Trả lời: - Khoản 1, Điều 322 Bộ luật Dân sự quy định: Các quyền tài sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm bao gồm quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng, quyền đòi nợ, quyền được nhận số tiền bảo hiểm đối với vật bảo đảm, quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp, quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng và các quyền tài sản khác thuộc sở hữu của bên bảo đảm đều được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.
Do nhà của bà chưa có sổ hồng nên bà không thể thế chấp nhà để vay vốn, mà chỉ có thể thế chấp hợp đồng mua bán nhà để vay vốn. Bà cần liên hệ với Trung tâm Đăng ký giao dịch tài sản của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm tại TPHCM để được xem xét, hướng dẫn cụ thể.
Luật gia NGUYỄN VĂN KHÔI
Theo: saigondautu.com.vn
Nguyễn Thị Ly Kha (quận Bình Thạnh, TPHCM)
Trả lời: - Khoản 1, Điều 322 Bộ luật Dân sự quy định: Các quyền tài sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm bao gồm quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng, quyền đòi nợ, quyền được nhận số tiền bảo hiểm đối với vật bảo đảm, quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp, quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng và các quyền tài sản khác thuộc sở hữu của bên bảo đảm đều được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.
Do nhà của bà chưa có sổ hồng nên bà không thể thế chấp nhà để vay vốn, mà chỉ có thể thế chấp hợp đồng mua bán nhà để vay vốn. Bà cần liên hệ với Trung tâm Đăng ký giao dịch tài sản của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm tại TPHCM để được xem xét, hướng dẫn cụ thể.
Luật gia NGUYỄN VĂN KHÔI
Theo: saigondautu.com.vn
Thụy Sĩ cảnh báo rủi ro cho vay thế chấp
(Vay thế chấp) -
Theo phóng viên TTXVN tại Thụy Sĩ, Phó thống đốc Ngân hàng trung ương Thụy Sĩ (SNB) Jean-Pierre Danthine ngày 11-8 bày tỏ những lo ngại về việc tiếp cận dễ dàng với các hoạt động thế chấp có thể dẫn đến khả năng các ngân hàng thiếu cẩn trọng trong việc xem xét các điều kiện cấp các khoản cho vay này.
Theo ông Danthine, khoảng 40% các khoản thế chấp mới được phê duyệt là không đảm bảo quy tắc thận trọng. Điều này cũng có nghĩa là nhiều trong số những người được vay thế chấp không thể xử lý tình huống khi lãi suất cao hơn.
Để các ngân hàng có thể ứng phó với nguy cơ nợ xấu khi lãi suất tăng, SNB hồi đầu năm đã buộc các ngân hàng phải nâng tỷ lệ vốn dự phòng.
Theo ông Danthine, vẫn còn quá sớm để đánh giá tác dụng của quy định này có đủ để ngăn chặn rủi ro đối với các khoản vay thế chấp, song điều chắc chắn là cần can thiệp sớm và từ từ hơn là can thiệp muộn và cứng nhắc.
Ông cũng yêu cầu các ngân hàng không được đánh giá thấp những rủi ro của các khoản cho vay thế chấp.
Mới đây, ngân hàng UBS lớn nhất Thụy Sĩ cho biết chỉ số bong bóng bất động sản Thụy Sĩ tiếp tục tăng 1,2 điểm trong quý II-2013.
Theo chỉ số của UBS, cứ trên 1 điểm thị trường bất động sản bị coi là rủi ro và trên hai điểm là biểu hiện bong bóng. Nếu xu hướng này tiếp tục, Thụy Sĩ sẽ chạm đến ngưỡng “bong bóng” trên thị trường bất động sản vào cuối năm 2014.
Điều này gợi nhớ lại thời gian cách đây 25 năm khi bong bóng bất động sản của Thụy Sĩ nổ tung, khiến các công ty địa ốc thua lỗ 50 tỷ franc (54 tỷ USD) và đẩy một loại ngân hàng vào cảnh phá sản.
(TTXVN)
Theo ông Danthine, khoảng 40% các khoản thế chấp mới được phê duyệt là không đảm bảo quy tắc thận trọng. Điều này cũng có nghĩa là nhiều trong số những người được vay thế chấp không thể xử lý tình huống khi lãi suất cao hơn.
Để các ngân hàng có thể ứng phó với nguy cơ nợ xấu khi lãi suất tăng, SNB hồi đầu năm đã buộc các ngân hàng phải nâng tỷ lệ vốn dự phòng.
Theo ông Danthine, vẫn còn quá sớm để đánh giá tác dụng của quy định này có đủ để ngăn chặn rủi ro đối với các khoản vay thế chấp, song điều chắc chắn là cần can thiệp sớm và từ từ hơn là can thiệp muộn và cứng nhắc.
Ông cũng yêu cầu các ngân hàng không được đánh giá thấp những rủi ro của các khoản cho vay thế chấp.
Mới đây, ngân hàng UBS lớn nhất Thụy Sĩ cho biết chỉ số bong bóng bất động sản Thụy Sĩ tiếp tục tăng 1,2 điểm trong quý II-2013.
Theo chỉ số của UBS, cứ trên 1 điểm thị trường bất động sản bị coi là rủi ro và trên hai điểm là biểu hiện bong bóng. Nếu xu hướng này tiếp tục, Thụy Sĩ sẽ chạm đến ngưỡng “bong bóng” trên thị trường bất động sản vào cuối năm 2014.
Điều này gợi nhớ lại thời gian cách đây 25 năm khi bong bóng bất động sản của Thụy Sĩ nổ tung, khiến các công ty địa ốc thua lỗ 50 tỷ franc (54 tỷ USD) và đẩy một loại ngân hàng vào cảnh phá sản.
(TTXVN)
Thận trọng cho vay thế chấp hàng hóa
(Vay thế chấp) -
Cho vay cầm cố thế chấp hàng hóa đã trở thành một vấn đề nóng, khi năm vừa qua nhiều doanh nghiệp (DN) cầm cố hàng hóa tại nhiều NH để vay vốn dẫn đến tranh chấp giữa các NH, nên các NHTM đang thận trọng hơn.
Năm 2013, nhiều vụ vỡ nợ tại các DN vay cầm cố, thế chấp hàng hóa cho NH như một hồi chuông báo động đối với các NH khi cho vay hình thức này. Đơn cử như CTCP Inox Việt Mỹ (Hà Nội) dùng toàn bộ hàng hóa là inox thế chấp để vay hơn 200 tỷ đồng của các NH.
Khi công ty này không có khả năng trả nợ, các NH đến đòi nợ mới biết có 6 NH đã nhận thế chấp cùng một kho hàng. Hay vụ việc nổi cộm nhất là Công ty TNHH Trường Ngân thế chấp kho hàng tại Bình Dương để vay 600 tỷ đồng từ 7 NH trong khi giá trị hàng hóa trong kho chỉ có 100 tỷ đồng, khiến các NH phải tranh nhau quyền kiểm soát kho cà phê của DN này.
Theo ông Cao Sỹ Kiêm, nguyên Thống đốc NHNN, việc thế chấp hàng hóa vay vốn rất phổ biến trên thế giới. Tuy nhiên, để được cấp vốn vay, DN phải đáp ứng nhiều tiêu chí. Thứ nhất, khả năng minh bạch của kho hàng như thế nào.
Thứ hai, DN phải cam kết chịu trách nhiệm về sự chính xác và đầy đủ đối với số lượng hàng hóa tại kho hàng. Thứ ba, NH phải quản lý chặt chẽ, kiểm soát được số lượng hàng hóa thế chấp vay vốn, hiểu được hàng hóa, quá trình xuất kho nhập kho cũng như chất lượng hàng hóa như thế nào để xác định nếu DN thua lỗ, lượng hàng hóa trong kho có đảm bảo được nợ vay hay không.
Chỉ khi nào DN đáp ứng được những yêu cầu này, NH mới tiến hành giải ngân. Còn ở nước ta, sở dĩ xảy ra tình trạng DN thế chấp một kho hàng tại nhiều NH vì các NH quản lý lỏng lẻo trong thủ tục cho vay, kiểm tra tài sản thế chấp, chất lượng tài sản thế chấp và DN không minh bạch thông tin của mình.
Điều này vô hình chung tạo điều kiện dễ thông đồng giữa cán bộ NH và DN, dẫn đến có những khoản cho vay thế chấp hàng hóa không đảm bảo tiêu chuẩn xảy ra. Đây cũng là cơ sở để làm tăng nợ xấu, nợ khó đòi.
Ông Nguyễn Đình Tùng, Tổng giám đốc OCB, cũng cho rằng các NH vướng phải tình trạng trên bởi sự thiếu chặt chẽ trong các khâu lựa chọn khách hàng cũng như biện pháp quản lý lỏng lẻo.
Tuy nhiên, ông Tùng cho rằng không nên vì vậy mà NH hạn chế cho vay thế chấp hàng hóa đối với DN. Bởi nếu không cho vay hình thức này, sẽ có đến 70% tín dụng bị nghẽn, hoạt động sản xuất kinh doanh không phát triển được.
Vì vậy NH cần phải sáng suốt, có biện pháp quản lý hàng hóa tốt, đảm bảo giá trị hàng hóa, có cam kết pháp lý ràng buộc, có nơi gửi gắm hàng hóa an toàn. Lâu nay nhiều NH cho khách hàng để tại kho của họ, đây là một biện pháp tương đối lỏng lẻo, NH nên đề nghị DN gửi ở một kho thứ ba.
ĐỖ LINH
Theo: saigondautu.com.vn
Năm 2013, nhiều vụ vỡ nợ tại các DN vay cầm cố, thế chấp hàng hóa cho NH như một hồi chuông báo động đối với các NH khi cho vay hình thức này. Đơn cử như CTCP Inox Việt Mỹ (Hà Nội) dùng toàn bộ hàng hóa là inox thế chấp để vay hơn 200 tỷ đồng của các NH.
Khi công ty này không có khả năng trả nợ, các NH đến đòi nợ mới biết có 6 NH đã nhận thế chấp cùng một kho hàng. Hay vụ việc nổi cộm nhất là Công ty TNHH Trường Ngân thế chấp kho hàng tại Bình Dương để vay 600 tỷ đồng từ 7 NH trong khi giá trị hàng hóa trong kho chỉ có 100 tỷ đồng, khiến các NH phải tranh nhau quyền kiểm soát kho cà phê của DN này.
Theo ông Cao Sỹ Kiêm, nguyên Thống đốc NHNN, việc thế chấp hàng hóa vay vốn rất phổ biến trên thế giới. Tuy nhiên, để được cấp vốn vay, DN phải đáp ứng nhiều tiêu chí. Thứ nhất, khả năng minh bạch của kho hàng như thế nào.
Thứ hai, DN phải cam kết chịu trách nhiệm về sự chính xác và đầy đủ đối với số lượng hàng hóa tại kho hàng. Thứ ba, NH phải quản lý chặt chẽ, kiểm soát được số lượng hàng hóa thế chấp vay vốn, hiểu được hàng hóa, quá trình xuất kho nhập kho cũng như chất lượng hàng hóa như thế nào để xác định nếu DN thua lỗ, lượng hàng hóa trong kho có đảm bảo được nợ vay hay không.
Chỉ khi nào DN đáp ứng được những yêu cầu này, NH mới tiến hành giải ngân. Còn ở nước ta, sở dĩ xảy ra tình trạng DN thế chấp một kho hàng tại nhiều NH vì các NH quản lý lỏng lẻo trong thủ tục cho vay, kiểm tra tài sản thế chấp, chất lượng tài sản thế chấp và DN không minh bạch thông tin của mình.
Điều này vô hình chung tạo điều kiện dễ thông đồng giữa cán bộ NH và DN, dẫn đến có những khoản cho vay thế chấp hàng hóa không đảm bảo tiêu chuẩn xảy ra. Đây cũng là cơ sở để làm tăng nợ xấu, nợ khó đòi.
Ông Nguyễn Đình Tùng, Tổng giám đốc OCB, cũng cho rằng các NH vướng phải tình trạng trên bởi sự thiếu chặt chẽ trong các khâu lựa chọn khách hàng cũng như biện pháp quản lý lỏng lẻo.
Tuy nhiên, ông Tùng cho rằng không nên vì vậy mà NH hạn chế cho vay thế chấp hàng hóa đối với DN. Bởi nếu không cho vay hình thức này, sẽ có đến 70% tín dụng bị nghẽn, hoạt động sản xuất kinh doanh không phát triển được.
Vì vậy NH cần phải sáng suốt, có biện pháp quản lý hàng hóa tốt, đảm bảo giá trị hàng hóa, có cam kết pháp lý ràng buộc, có nơi gửi gắm hàng hóa an toàn. Lâu nay nhiều NH cho khách hàng để tại kho của họ, đây là một biện pháp tương đối lỏng lẻo, NH nên đề nghị DN gửi ở một kho thứ ba.
ĐỖ LINH
Theo: saigondautu.com.vn
Thứ Tư, 3 tháng 6, 2015
Xử lý tài sản thế chấp: Nhiêu khê, vướng mắc
(Vay thế chấp) -
Vài năm trở lại đây, nợ xấu của các ngân hàng thương mại (NHTM) tăng cao do doanh nghiệp không có khả năng trả nợ. Tuy nhiên, ngoài những tài sản chuyển giao cho Công ty Quản lý tài sản các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC), những tài sản còn lại mất khả năng trả nợ, buộc các NHTM tự xử lý thông qua hình thức phát mãi nhưng kết quả hạn chế đã khiến nhiều khoản nợ xấu bị “chôn” trong nhiều năm.
"Ngâm" hồ sơ thi hành án
Theo Cơ quan thanh tra giám sát NHNN, tính đến hết tháng 2-2014, tỷ lệ nợ xấu của toàn hệ thống là 308.000 tỷ đồng, tính cả số nợ được cơ cấu lại theo Quyết định 780, chiếm 9,71% tổng dư nợ. Thời gian qua NHTM đã thực hiện nhiều giải pháp như trích lập dự phòng rủi ro, bán tài sản thế chấp để thu hồi nợ và bán nợ cho VAMC. Trong số đó, giải pháp bán tài sản thế chấp giúp thu hồi nợ nhanh chóng nhưng NH rất khó bán vì quá trình này rất nhiêu khê.
Giám đốc chi nhánh một NHTM tại TPHCM (xin được giấu tên), cho biết NH ông đang có hồ sơ vay của Công ty Phúc Bảo được cơ quan thi hành án tiếp nhận 6 năm vẫn chưa xử lý xong. Cụ thể, Phúc Bảo vay tiền NH để thực hiện dự án bất động sản và thế chấp khoản vay bằng căn nhà trên đường Phan Đình Phùng, quận Phú Nhuận thuộc tài sản của công ty.
Tuy nhiên, sau khi đền bù giải tỏa dự án, công ty này đã sang nhượng dự án lại cho đơn vị khác. Năm 2007, đến thời điểm đáo hạn nợ, Phúc Bảo không trả được khoản nợ gốc 17 tỷ đồng. Sau nhiều lần thương lượng không thành, NH này khởi kiện và được tòa xử thắng kiện. Năm 2008, tòa án TPHCM ra quyết định công nhận thỏa thuận đương sự, theo đó Phúc Bảo phải trả nợ cho NH, tài sản thế chấp được phát mãi để NH thu hồi nợ.
Quyết định này được chuyển sang cơ quan thi hành án để thực hiện bán đấu giá vào năm 2008. Nhưng đến nay, trải qua 6 năm và 13 lần bán đấu giá cơ quan thi hành án thông báo vẫn chưa bán được. Theo quy định, cứ mỗi lần đấu giá như vậy, tài sản thế chấp lại giảm 5%, nên từ mức đấu giá khởi đầu 25 tỷ đồng, hiện nay giá trị tài sản thế chấp đưa ra đấu giá chỉ còn 16 tỷ đồng.
Chưa xong, tài sản chưa phát mãi được nhưng mới đây lại có người kiện chủ cũ của căn nhà với lý do người này sở hữu một phần căn nhà đó. Tòa đã thụ lý đơn và thông báo đến cơ quan thi hành án tạm đình chỉ, chờ tòa xử lý vụ kiện trên.
Vị giám đốc này chia sẻ, khi NH cho vay có công chứng giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp, có giấy chứng nhận đảm bảo, rõ ràng tài sản khách hàng vay đứng tên là chủ sở hữu tài sản, trong khi đơn kiện mới đây đưa ra bằng chứng thỏa thuận bằng giấy viết tay không có công chứng nhưng tòa vẫn thụ lý nên NH phải chờ.
Kẽ hở của luật
Theo Nghị định 163/2006/NĐ-CP, trong trường hợp tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện vay vốn, việc xử lý tài sản đó được thực hiện theo thỏa thuận của các bên; nếu không có thỏa thuận, tài sản được bán đấu giá theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, để NH đưa tài sản ra phát mãi đòi hỏi khách hàng phải hợp tác, trong khi trường hợp này rất hạn hữu. Khi khách hàng không hợp tác, NH sẽ kiện và đương nhiên thắng bởi tài sản thế chấp đã công chứng, đăng ký giao dịch đảm bảo, tức NH được ưu tiên đòi nợ.
Nhưng bán phát mãi tài sản lại vướng ở khâu thi hành án vì thời gian kéo dài. Theo quy định, thời hạn giải quyết những vụ án bình thường là 4 tháng, phức tạp hơn kéo dài hơn 4 tháng nhưng không quá 8 tháng. Song trong Luật Thi hành án lại không quy định thời gian nên rất nhiều hồ sơ bị “ngâm” nhiều năm. Khi NH phản ánh, cơ quan thi hành án trả lời nhiều việc, quá tải...
Cù nhầy lách luật
Sự “nhùng nhằng” tài sản được bán đấu giá được thể hiện qua quy trình phức tạp. Như sau khi tiếp nhận đơn của NH yêu cầu thi hành án, cơ quan thi hành án mời khách hàng và NH đến để cùng thương lượng lại.
Nếu 2 bên không thương lượng được, cơ quan này sẽ thực hiện phát mãi tài sản theo yêu cầu của phía NH, tức làm thủ tục định giá tài sản đảm bảo sau đó đưa ra trung tâm bán phát mãi. Tưởng như vậy là xong, nhưng một số NH cho biết có trường hợp khi đang trong giai đoạn phát mãi tài sản, có người nộp đơn kiện tranh chấp tài sản thế chấp, tòa án cũng thụ lý đơn và tài sản thế chấp chuyển thành tài sản tranh chấp.
Hay để bán đấu giá, NH phải thực hiện đo vẽ lại sau đó mới đưa ra bán phát mãi. Nếu bán được rồi, bên thi hành án có thể cưỡng chế giao nhà cho người mua. Tuy nhiên, nếu khách hàng đóng cửa bỏ đi, không vào đo vẽ được cũng làm kéo dài thời gian.
Hoặc doanh nghiệp thế chấp nhà để vay vốn NH không có khả năng trả, món nợ trở thành nợ xấu, trong khi khách hàng rời khỏi địa phương, tài sản thế chấp cho thuê, NH khởi kiện, tòa án không thụ lý được vì không có bị đơn. Đây là cách lách luật khiến nhiều NH gặp khó khăn. Có trường hợp, tòa án cho rằng theo Hiến pháp, nếu muốn xử lý tài sản thế chấp nhà ở NH phải tìm cho người vay nợ chỗ ở khác sau đó tòa mới xử lý.
Ngoài các trường hợp trên, các NH cho biết hiện nay đang có tình trạng, ông A ở công ty A có tài sản là dự án thế chấp vay NH để kinh doanh. Khi không trả được nợ, ông A tìm đối tác sang nhượng cổ phần, nếu là công ty TNHH thì thay đổi thành viên góp vốn, chuyển cho ông B. Nếu ông B tỉnh táo phải xác định xem tài sản này như thế nào, thế chấp ở đâu, bao nhiêu tiền.
Thông thường, nếu ông A đã vay 10 tỷ đồng nhưng tài sản thế chấp trị giá 20 tỷ đồng và xảy ra 2 trường hợp: Ông B chỉ chấp nhận mua với giá tối đa 10 tỷ đồng, hoặc mua với giá 20 tỷ đồng và ôm trọn tài sản đã thế chấp, tức ôm nợ NH. Nếu ông B ôm trọn số tài sản thế chấp, cơ quan thi hành án còn dễ xử lý, còn ngược lại sẽ rất khó xử lý vì phải thỏa điều kiện cho cả A và B. Trường hợp khó hơn là ông B tham gia nhưng không kiểm tra kỹ nợ vay, khi biết mình bị hố sẽ không ra tòa gây khó cho việc thi hành án.
Theo ông Võ Ngọc Kình, Phó Giám đốc Agribank Chi nhánh TPHCM, xử lý nợ xấu luôn là vấn đề đau đầu đối với NHTM. Đa số tài sản thế chấp vay vốn tại NHTM là bất động sản. Vì thế, khi thị trường bất động sản đóng băng kéo dài, giá thành sụt giảm kéo giá trị tài sản đảm bảo của khách hàng so với giá trị NH định giá khi cho vay, nếu không giảm giá sẽ rất khó bán.
Trong khi nhiều khách hàng vay không muốn phát mãi vì giá bán tài sản thấp, có tâm lý chờ thị trường bất động sản khởi sắc trở lại để bán được giá cao.
Khai thông bế tắc?
TS. Trần Du Lịch, Ủy viên Ủy ban kinh tế của Quốc hội, cho biết trước đây các NHTM cho vay thế chấp bất động sản với giá cao, thậm chí có NH nâng giá tài sản để cho vay. Nay phải kéo giá xuống, các NH buộc chấp nhận bán tài sản giá thấp để thu hồi nợ hoặc một phần nợ nhằm cân đối tài sản thật. Đây cũng là một phương án để kéo giá bất động sản giảm xuống.
Tuy nhiên, thời gian qua thực tế ở nhiều NHTM cho thấy việc bán tài sản thế chấp quá nhiêu khê do qua rất nhiều quy trình thủ tục và mất nhiều năm vẫn chưa xử lý được. Nếu tài sản thế chấp là nhà ở chỉ mang tính chất dân sự còn dễ bán, nếu liên quan đến các vấn đề chính trị xã hội càng khó xử lý hơn.
Về vấn đề này, ông Phan Huy Khang, Tổng giám đốc Sacombank, đề xuất muốn xử lý hiệu quả tài sản thế chấp cần có sự hỗ trợ liên ngành từ Bộ Tư pháp đến cơ quan thi hành án, NH mới có thể gỡ "cục máu đông” nợ xấu, khai thông dòng vốn luân chuyển nền kinh tế.
Đồng thời, nhiều NH cũng kiến nghị về những bất hợp lý trong quá trình phát mãi tài sản thế chấp bằng bất động sản. Chẳng hạn, theo quy định NH được phép giữ nguyên hiện trạng tài sản khi tiến hành phát mãi, nhưng cơ quan chức năng lại yêu cầu muốn phát mãi phải chuyển tình trạng sử dụng đất từ đất ở thành dự án đầu tư mới được phát mãi, gây khó cho NH.
Ngoài ra, dù trong hợp đồng ký kết, NH được toàn quyền xử lý tài sản đảm bảo, nhưng nếu khách hàng không đồng ý ký vào hồ sơ chuyển nhượng, NH cũng không thể bán để thu hồi nợ. Trong khi đó, hồ sơ chuyển qua thi hành án và trung tâm đấu giá bị ngâm lâu khiến nhiều NH bán không thu hồi đủ vốn, bị cơ quan pháp luật vào điều tra nguyên nhân bán thấp hơn giá vốn. Các NHTM đề nghị nên có cơ chế phù hợp để xử lý tài sản thế chấp để vấn đề xử lý nợ xấu được đẩy nhanh hơn.
Ngày 13-6 tới đây, Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự sẽ được các đại biểu Quốc hội đưa lên nghị trường mổ xẻ. Mong rằng việc sửa đổi lần này sẽ góp phần khai thông khối nợ xấu hiện nay.
Yên Lam - saigondautu.com.vn
"Ngâm" hồ sơ thi hành án
Theo Cơ quan thanh tra giám sát NHNN, tính đến hết tháng 2-2014, tỷ lệ nợ xấu của toàn hệ thống là 308.000 tỷ đồng, tính cả số nợ được cơ cấu lại theo Quyết định 780, chiếm 9,71% tổng dư nợ. Thời gian qua NHTM đã thực hiện nhiều giải pháp như trích lập dự phòng rủi ro, bán tài sản thế chấp để thu hồi nợ và bán nợ cho VAMC. Trong số đó, giải pháp bán tài sản thế chấp giúp thu hồi nợ nhanh chóng nhưng NH rất khó bán vì quá trình này rất nhiêu khê.
Giám đốc chi nhánh một NHTM tại TPHCM (xin được giấu tên), cho biết NH ông đang có hồ sơ vay của Công ty Phúc Bảo được cơ quan thi hành án tiếp nhận 6 năm vẫn chưa xử lý xong. Cụ thể, Phúc Bảo vay tiền NH để thực hiện dự án bất động sản và thế chấp khoản vay bằng căn nhà trên đường Phan Đình Phùng, quận Phú Nhuận thuộc tài sản của công ty.
Tuy nhiên, sau khi đền bù giải tỏa dự án, công ty này đã sang nhượng dự án lại cho đơn vị khác. Năm 2007, đến thời điểm đáo hạn nợ, Phúc Bảo không trả được khoản nợ gốc 17 tỷ đồng. Sau nhiều lần thương lượng không thành, NH này khởi kiện và được tòa xử thắng kiện. Năm 2008, tòa án TPHCM ra quyết định công nhận thỏa thuận đương sự, theo đó Phúc Bảo phải trả nợ cho NH, tài sản thế chấp được phát mãi để NH thu hồi nợ.
Quyết định này được chuyển sang cơ quan thi hành án để thực hiện bán đấu giá vào năm 2008. Nhưng đến nay, trải qua 6 năm và 13 lần bán đấu giá cơ quan thi hành án thông báo vẫn chưa bán được. Theo quy định, cứ mỗi lần đấu giá như vậy, tài sản thế chấp lại giảm 5%, nên từ mức đấu giá khởi đầu 25 tỷ đồng, hiện nay giá trị tài sản thế chấp đưa ra đấu giá chỉ còn 16 tỷ đồng.
Chưa xong, tài sản chưa phát mãi được nhưng mới đây lại có người kiện chủ cũ của căn nhà với lý do người này sở hữu một phần căn nhà đó. Tòa đã thụ lý đơn và thông báo đến cơ quan thi hành án tạm đình chỉ, chờ tòa xử lý vụ kiện trên.
Vị giám đốc này chia sẻ, khi NH cho vay có công chứng giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp, có giấy chứng nhận đảm bảo, rõ ràng tài sản khách hàng vay đứng tên là chủ sở hữu tài sản, trong khi đơn kiện mới đây đưa ra bằng chứng thỏa thuận bằng giấy viết tay không có công chứng nhưng tòa vẫn thụ lý nên NH phải chờ.
Kẽ hở của luật
Theo Nghị định 163/2006/NĐ-CP, trong trường hợp tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện vay vốn, việc xử lý tài sản đó được thực hiện theo thỏa thuận của các bên; nếu không có thỏa thuận, tài sản được bán đấu giá theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, để NH đưa tài sản ra phát mãi đòi hỏi khách hàng phải hợp tác, trong khi trường hợp này rất hạn hữu. Khi khách hàng không hợp tác, NH sẽ kiện và đương nhiên thắng bởi tài sản thế chấp đã công chứng, đăng ký giao dịch đảm bảo, tức NH được ưu tiên đòi nợ.
Nhưng bán phát mãi tài sản lại vướng ở khâu thi hành án vì thời gian kéo dài. Theo quy định, thời hạn giải quyết những vụ án bình thường là 4 tháng, phức tạp hơn kéo dài hơn 4 tháng nhưng không quá 8 tháng. Song trong Luật Thi hành án lại không quy định thời gian nên rất nhiều hồ sơ bị “ngâm” nhiều năm. Khi NH phản ánh, cơ quan thi hành án trả lời nhiều việc, quá tải...
Cù nhầy lách luật
Sự “nhùng nhằng” tài sản được bán đấu giá được thể hiện qua quy trình phức tạp. Như sau khi tiếp nhận đơn của NH yêu cầu thi hành án, cơ quan thi hành án mời khách hàng và NH đến để cùng thương lượng lại.
Nếu 2 bên không thương lượng được, cơ quan này sẽ thực hiện phát mãi tài sản theo yêu cầu của phía NH, tức làm thủ tục định giá tài sản đảm bảo sau đó đưa ra trung tâm bán phát mãi. Tưởng như vậy là xong, nhưng một số NH cho biết có trường hợp khi đang trong giai đoạn phát mãi tài sản, có người nộp đơn kiện tranh chấp tài sản thế chấp, tòa án cũng thụ lý đơn và tài sản thế chấp chuyển thành tài sản tranh chấp.
Hay để bán đấu giá, NH phải thực hiện đo vẽ lại sau đó mới đưa ra bán phát mãi. Nếu bán được rồi, bên thi hành án có thể cưỡng chế giao nhà cho người mua. Tuy nhiên, nếu khách hàng đóng cửa bỏ đi, không vào đo vẽ được cũng làm kéo dài thời gian.
Hoặc doanh nghiệp thế chấp nhà để vay vốn NH không có khả năng trả, món nợ trở thành nợ xấu, trong khi khách hàng rời khỏi địa phương, tài sản thế chấp cho thuê, NH khởi kiện, tòa án không thụ lý được vì không có bị đơn. Đây là cách lách luật khiến nhiều NH gặp khó khăn. Có trường hợp, tòa án cho rằng theo Hiến pháp, nếu muốn xử lý tài sản thế chấp nhà ở NH phải tìm cho người vay nợ chỗ ở khác sau đó tòa mới xử lý.
Ngoài các trường hợp trên, các NH cho biết hiện nay đang có tình trạng, ông A ở công ty A có tài sản là dự án thế chấp vay NH để kinh doanh. Khi không trả được nợ, ông A tìm đối tác sang nhượng cổ phần, nếu là công ty TNHH thì thay đổi thành viên góp vốn, chuyển cho ông B. Nếu ông B tỉnh táo phải xác định xem tài sản này như thế nào, thế chấp ở đâu, bao nhiêu tiền.
Thông thường, nếu ông A đã vay 10 tỷ đồng nhưng tài sản thế chấp trị giá 20 tỷ đồng và xảy ra 2 trường hợp: Ông B chỉ chấp nhận mua với giá tối đa 10 tỷ đồng, hoặc mua với giá 20 tỷ đồng và ôm trọn tài sản đã thế chấp, tức ôm nợ NH. Nếu ông B ôm trọn số tài sản thế chấp, cơ quan thi hành án còn dễ xử lý, còn ngược lại sẽ rất khó xử lý vì phải thỏa điều kiện cho cả A và B. Trường hợp khó hơn là ông B tham gia nhưng không kiểm tra kỹ nợ vay, khi biết mình bị hố sẽ không ra tòa gây khó cho việc thi hành án.
Theo ông Võ Ngọc Kình, Phó Giám đốc Agribank Chi nhánh TPHCM, xử lý nợ xấu luôn là vấn đề đau đầu đối với NHTM. Đa số tài sản thế chấp vay vốn tại NHTM là bất động sản. Vì thế, khi thị trường bất động sản đóng băng kéo dài, giá thành sụt giảm kéo giá trị tài sản đảm bảo của khách hàng so với giá trị NH định giá khi cho vay, nếu không giảm giá sẽ rất khó bán.
Trong khi nhiều khách hàng vay không muốn phát mãi vì giá bán tài sản thấp, có tâm lý chờ thị trường bất động sản khởi sắc trở lại để bán được giá cao.
Khai thông bế tắc?
TS. Trần Du Lịch, Ủy viên Ủy ban kinh tế của Quốc hội, cho biết trước đây các NHTM cho vay thế chấp bất động sản với giá cao, thậm chí có NH nâng giá tài sản để cho vay. Nay phải kéo giá xuống, các NH buộc chấp nhận bán tài sản giá thấp để thu hồi nợ hoặc một phần nợ nhằm cân đối tài sản thật. Đây cũng là một phương án để kéo giá bất động sản giảm xuống.
Tuy nhiên, thời gian qua thực tế ở nhiều NHTM cho thấy việc bán tài sản thế chấp quá nhiêu khê do qua rất nhiều quy trình thủ tục và mất nhiều năm vẫn chưa xử lý được. Nếu tài sản thế chấp là nhà ở chỉ mang tính chất dân sự còn dễ bán, nếu liên quan đến các vấn đề chính trị xã hội càng khó xử lý hơn.
Về vấn đề này, ông Phan Huy Khang, Tổng giám đốc Sacombank, đề xuất muốn xử lý hiệu quả tài sản thế chấp cần có sự hỗ trợ liên ngành từ Bộ Tư pháp đến cơ quan thi hành án, NH mới có thể gỡ "cục máu đông” nợ xấu, khai thông dòng vốn luân chuyển nền kinh tế.
Đồng thời, nhiều NH cũng kiến nghị về những bất hợp lý trong quá trình phát mãi tài sản thế chấp bằng bất động sản. Chẳng hạn, theo quy định NH được phép giữ nguyên hiện trạng tài sản khi tiến hành phát mãi, nhưng cơ quan chức năng lại yêu cầu muốn phát mãi phải chuyển tình trạng sử dụng đất từ đất ở thành dự án đầu tư mới được phát mãi, gây khó cho NH.
Ngoài ra, dù trong hợp đồng ký kết, NH được toàn quyền xử lý tài sản đảm bảo, nhưng nếu khách hàng không đồng ý ký vào hồ sơ chuyển nhượng, NH cũng không thể bán để thu hồi nợ. Trong khi đó, hồ sơ chuyển qua thi hành án và trung tâm đấu giá bị ngâm lâu khiến nhiều NH bán không thu hồi đủ vốn, bị cơ quan pháp luật vào điều tra nguyên nhân bán thấp hơn giá vốn. Các NHTM đề nghị nên có cơ chế phù hợp để xử lý tài sản thế chấp để vấn đề xử lý nợ xấu được đẩy nhanh hơn.
Ngày 13-6 tới đây, Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự sẽ được các đại biểu Quốc hội đưa lên nghị trường mổ xẻ. Mong rằng việc sửa đổi lần này sẽ góp phần khai thông khối nợ xấu hiện nay.
Yên Lam - saigondautu.com.vn
Cho vay tín chấp: Trao tiền cho anh "trọc đầu"
(Vay thế chấp) -
Trái ngược với xu hướng thế giới, cho vay tín chấp ở Việt Nam giống như cho anh trọc đầu vay, không có tóc để nắm, nên ngân hàng rất ngại ra vốn cho phân khúc này.
Bất ngờ tăng trưởng tín dụng
9 tháng đầu năm, tăng trưởng tín dụng của TPBank đạt gần 46%, gấp 4 lần so với kế hoạch đặt ra từ đầu năm. Ông Đinh Việt Cường, Giám đốc Khối ngân hàng DN (TPBank) cho biết, sở dĩ tăng trưởng tín dụng của TPBank khả quan là do quy mô tín dụng của TPBank trước đây còn nhỏ; hơn nữa, do Ngân hàng đẩy mạnh bán lẻ và có nhiều gói ưu đãi, hỗ trợ doanh nghiệp với lãi suất hấp dẫn, thủ tục nhanh gọn.
Không chỉ TPBank, nhiều ngân hàng khác cũng có tăng trưởng tín dụng tốt, như Vietcombank tín dụng tăng trên 10% trong 9 tháng đầu năm; VietinBank có thể đạt mức tăng trưởng 10% tính đến cuối tháng 10/2014.
Theo các ngân hàng thương mại, tín dụng tăng mạnh, nhưng dòng vốn vẫn được chảy vào các lĩnh vực ưu tiên. Tuy nhiên, theo thống kê của NHNN, tăng trưởng cao nhất vẫn là lĩnh vực bất động sản, bán lẻ, tiêu dùng. Trong khi đó, cho vay khối DN vẫn rất khó khăn.
Muốn vay tín chấp, phải trả phí cao
Cuối tháng 7/2014, NHNN có văn bản yêu cầu các tổ chức tín dụng tăng cường xếp hạng tín nhiệm, khai thác thông tin xếp hạng tín nhiệm DN để cho vay tín chấp. Tiếp đó, tháng 9/2014, Chính phủ cũng ban hành Chỉ thị 25/CT-TTg, yêu cầu ngành ngân hàng xem xét tăng cường khả năng cho vay tín chấp. Tuy nhiên, đến nay, việc cho vay tín chấp dường như đang bị lãng quên.
Cụ thể, ngoài 3 đợt cho vay thí điểm nông nghiệp công nghệ cao, sản xuất theo chuỗi với tổng vốn hơn 4.700 tỷ đồng mà NHNN và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đứng ra kết nối, các ngân hàng chưa có động thái nào về việc mở rộng cho vay tín chấp. Khi được hỏi, hầu hết DN cũng cho biết chưa thể tiếp cận vốn tín chấp.
Theo TS. Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia kinh tế, hiện nay, ở Việt Nam, các ngân hàng xem cho vay tín chấp giống như cho anh trọc đầu vay, không có tóc để nắm, nên ngại cho vay. Song thực tế, các nhà băng trên thế giới “khoái” cho vay tín chấp hơn là cho vay thế chấp.
“Các ngân hàng Việt Nam chưa quen với cho vay tín chấp, nên không dám mạnh tay thực hiện. Song thực ra, để ngân hàng ‘xuống tiền’ cho vay tín chấp, thì đó phải là những DN tốt, với vốn tự có dồi dào, quản trị tài chính tốt, kiểm toán tốt, thị phần tốt, lịch sử hoạt động kinh doanh tốt… Trong khi đó, DN đã buộc phải có tài sản thế chấp mới được vay vốn, tức là những DN vốn đã không chứng minh được các ưu điểm, cũng như cơ hội phát triển”, TS. Hiếu nói.
Tại anh, tại ả?
Thực tế, việc cho vay tín chấp không phát triển không hẳn chỉ do lỗi từ ngân hàng. Thói quen không minh bạch số liệu, thiếu kiểm toán, thiếu chung thủy trong giao dịch ngân hàng của các DN đã khiến họ tự cắt đi cơ hội vay tín chấp.
Ông Phạm Quang Dũng, Phó tổng giám đốc Vietcombank khẳng định, ngân hàng sẵn sàng mở cửa cho vay tín chấp, song DN cũng cần minh bạch trong kinh doanh, nhất là báo cáo tài chính phải qua kiểm toán.
Tuy vậy, trao đổi với phóng viên Báo Đầu tư điện tử -Baodautu.vn, giám đốc một DN phản ánh, không phải cứ minh bạch là được vay tín chấp. “DN chúng tôi được xếp hạng tín nhiệm tốt, không bị vướng vào nợ xấu, được nhiều ngân hàng mời chào vay vốn. Tuy nhiên, khi đặt vấn đề vay tín chấp, các ngân hàng đều yêu cầu phải sử dụng dịch vụ trọn gói của ngân hàng, trong đó có nhiều dịch vụ (kèm theo phí cao ngất ngưởng) mà chúng tôi thấy không cần thiết, khiến lãi suất cho vay bị đội lên”, vị giám đốc trên nói.
Việc DN, ngân hàng đều “giữ miếng”, chưa tin nhau khiến chủ trương cho vay tín chấp đang có nguy cơ nằm trên giấy. Trong khi đó, trả lời chất vấn Ủy ban Thường vụ của Quốc hội mới đây, Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình cũng thừa nhận, cho vay tín chấp mới chỉ dừng ở mức độ thí điểm.
Hà Tâm
Báo đầu tư
Bất ngờ tăng trưởng tín dụng
9 tháng đầu năm, tăng trưởng tín dụng của TPBank đạt gần 46%, gấp 4 lần so với kế hoạch đặt ra từ đầu năm. Ông Đinh Việt Cường, Giám đốc Khối ngân hàng DN (TPBank) cho biết, sở dĩ tăng trưởng tín dụng của TPBank khả quan là do quy mô tín dụng của TPBank trước đây còn nhỏ; hơn nữa, do Ngân hàng đẩy mạnh bán lẻ và có nhiều gói ưu đãi, hỗ trợ doanh nghiệp với lãi suất hấp dẫn, thủ tục nhanh gọn.
Không chỉ TPBank, nhiều ngân hàng khác cũng có tăng trưởng tín dụng tốt, như Vietcombank tín dụng tăng trên 10% trong 9 tháng đầu năm; VietinBank có thể đạt mức tăng trưởng 10% tính đến cuối tháng 10/2014.
Theo các ngân hàng thương mại, tín dụng tăng mạnh, nhưng dòng vốn vẫn được chảy vào các lĩnh vực ưu tiên. Tuy nhiên, theo thống kê của NHNN, tăng trưởng cao nhất vẫn là lĩnh vực bất động sản, bán lẻ, tiêu dùng. Trong khi đó, cho vay khối DN vẫn rất khó khăn.
Muốn vay tín chấp, phải trả phí cao
Cuối tháng 7/2014, NHNN có văn bản yêu cầu các tổ chức tín dụng tăng cường xếp hạng tín nhiệm, khai thác thông tin xếp hạng tín nhiệm DN để cho vay tín chấp. Tiếp đó, tháng 9/2014, Chính phủ cũng ban hành Chỉ thị 25/CT-TTg, yêu cầu ngành ngân hàng xem xét tăng cường khả năng cho vay tín chấp. Tuy nhiên, đến nay, việc cho vay tín chấp dường như đang bị lãng quên.
Cụ thể, ngoài 3 đợt cho vay thí điểm nông nghiệp công nghệ cao, sản xuất theo chuỗi với tổng vốn hơn 4.700 tỷ đồng mà NHNN và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đứng ra kết nối, các ngân hàng chưa có động thái nào về việc mở rộng cho vay tín chấp. Khi được hỏi, hầu hết DN cũng cho biết chưa thể tiếp cận vốn tín chấp.
Theo TS. Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia kinh tế, hiện nay, ở Việt Nam, các ngân hàng xem cho vay tín chấp giống như cho anh trọc đầu vay, không có tóc để nắm, nên ngại cho vay. Song thực tế, các nhà băng trên thế giới “khoái” cho vay tín chấp hơn là cho vay thế chấp.
“Các ngân hàng Việt Nam chưa quen với cho vay tín chấp, nên không dám mạnh tay thực hiện. Song thực ra, để ngân hàng ‘xuống tiền’ cho vay tín chấp, thì đó phải là những DN tốt, với vốn tự có dồi dào, quản trị tài chính tốt, kiểm toán tốt, thị phần tốt, lịch sử hoạt động kinh doanh tốt… Trong khi đó, DN đã buộc phải có tài sản thế chấp mới được vay vốn, tức là những DN vốn đã không chứng minh được các ưu điểm, cũng như cơ hội phát triển”, TS. Hiếu nói.
Tại anh, tại ả?
Thực tế, việc cho vay tín chấp không phát triển không hẳn chỉ do lỗi từ ngân hàng. Thói quen không minh bạch số liệu, thiếu kiểm toán, thiếu chung thủy trong giao dịch ngân hàng của các DN đã khiến họ tự cắt đi cơ hội vay tín chấp.
Ông Phạm Quang Dũng, Phó tổng giám đốc Vietcombank khẳng định, ngân hàng sẵn sàng mở cửa cho vay tín chấp, song DN cũng cần minh bạch trong kinh doanh, nhất là báo cáo tài chính phải qua kiểm toán.
Tuy vậy, trao đổi với phóng viên Báo Đầu tư điện tử -Baodautu.vn, giám đốc một DN phản ánh, không phải cứ minh bạch là được vay tín chấp. “DN chúng tôi được xếp hạng tín nhiệm tốt, không bị vướng vào nợ xấu, được nhiều ngân hàng mời chào vay vốn. Tuy nhiên, khi đặt vấn đề vay tín chấp, các ngân hàng đều yêu cầu phải sử dụng dịch vụ trọn gói của ngân hàng, trong đó có nhiều dịch vụ (kèm theo phí cao ngất ngưởng) mà chúng tôi thấy không cần thiết, khiến lãi suất cho vay bị đội lên”, vị giám đốc trên nói.
Việc DN, ngân hàng đều “giữ miếng”, chưa tin nhau khiến chủ trương cho vay tín chấp đang có nguy cơ nằm trên giấy. Trong khi đó, trả lời chất vấn Ủy ban Thường vụ của Quốc hội mới đây, Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình cũng thừa nhận, cho vay tín chấp mới chỉ dừng ở mức độ thí điểm.
Hà Tâm
Báo đầu tư
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)


